Ba
mươi năm trước –
Ba
mươi năm sau.
Nguyễn
Thanh Ty
Tôi ra tù “cải tạo” giữa năm
1981. Về nhà kiếm cái ăn c̣n khó hơn lúc c̣n ở
trong trại tù. Đi xin việc không ai chịu nhận
một sĩ quan “ngụy” mới được tha.
Hợp tác xă nào cũng nh́n tôi với ánh
mắt nghi kỵ và ngại ngùng.
Tôi xin vào HTX Dệt vải màn để
dệt gia công th́ ông Chủ Nhiệm lắc đầu nói
thẳng mặt rằng:
- Mấy ông tù cải tạo mới
về lănh sợi rồi đem bán lấy tiền
vượt biên, chúng tôi lấy ǵ đền cho Nhà
nước?
Xin vào HTX Xây Dựng ông Chủ nhiệm
hỏi có biết cầm bay xây nhà không?
- Dạ không!
Có biết lát gạch hoa nền nhà không?
- Dạ không!
- Cái ǵ cũng không biết th́ xin vào Xây
Dựng làm được cái ǵ?
Quả thực, ngày xưa chọn cái
nghề dạy học tôi cứ tưởng đâu là yên
phận một đời. Hay đâu sau một cuộc đổi
đời, biển cả hóa ruộng dâu. Ông xuống thành
thằng. Chăn trâu, đày tớ lên làm ông chủ. Tôi trở nên hụt hẫng, chới
với, không biết phải làm ǵ để có thể
mỗi ngày kiếm ra một kư gạo để nuôi con.
Đi ăn cắp th́ không thể được rồi.
Mà dễ ǵ ăn cắp được khi thiên hạ ai
cũng đều đói khổ cả.
Hồi c̣n ở trong tù, năm 1979 là
năm đói nhất, tôi c̣n có thể lén ăn cắp (trong
tù gọi là đi cải thiện) củ khoai, củ
sắn hoặc bẻ cái bắp chuối, vặt trái cà mà
ăn. Bây giờ ở thành phố lấy khoai sắn
chuối cà đâu mà đào trộm, bẻ trộm?
Thật là thiên nan vạn
nan. Không lẽ bây giờ lại xin đi ở tù cải
tạo lại vài năm nữa! Thiệt là vô lư! C̣n bầy
con không lẽ để cho cha mẹ già yếu nuôi hộ
măi sao?
Cuối cùng, tôi cũng
được ông Chủ nhiệm HTX Xây Dựng
thương t́nh dành cho một công việc không chuyên môn là
đạp xe ba gát chở xà bần đi đổ. Ây
cũng là nhờ lời nói vào của thằng bạn, con
ông Chủ nhiệm, cũng đi “cải tạo” mới về
như tôi.
Công việc này rất
nặng nhọc. Nhất là lúc đạp ngược gió
th́ trọng lượng cái xe ba gát đầy tú hụ xà
bần gạch đá vụn, nặng lên gấp đôi. Tuy
vậy tôi cũng cố ráng sức để
được mỗi tháng lănh được 120
đồng bạc về đưa cho má tôi để phụ
thêm tiền chợ.
Được cái vui là
đám tù được tha chúng tôi, đứa th́
đạp xe xích lô, đứa th́ khuân vác ở chợ… làm
đủ thứ lao động tay chân, mỗi khi gặp
nhau, ngồi quán cóc vĩa hè uống ly cà phê đen, ph́ phà
điếu thuốc rê - bốc lăn xe – bù khú năm ba câu
chuyện rồi đứa nọ an ủi đứa kia
bằng những ư tưởng lạc quan - ráng lên - ngày mai
trời lại sáng!
Trong thời gian này tôi dần dà kiệt
sức nhưng vẫn cố gắng đeo đuổi
công việc v́ chưa kiếm được việc khác
khá hơn, hợp với sức khoẻ hơn. Tôi đâm
ra bi quan và buồn rầu với ư nghĩ tuyệt vọng
– “Chẳng lẽ cuộc đời ḿnh sẽ măi măi
như thế này sao? Các con ḿnh lớn lên cũng sẽ
như thế này sao?” - Một
viễn ảnh trước mắt thật đen tối
hăi hùng.
Vậy mà vẫn chưa hăi hùng bằng
câu truyện xăy ra ở ngoài Bắc, cái nôi của Xă Hội
Chủ Nghĩa đă được xây dựng kiểu
mẫu từ năm 1945.
Khoảng cuối năm 1983, một hôm
có anh bạn lén đưa cho tôi một bài báo bằng
giấy quay rô nê ô, đă ngă màu ố vàng. Chắc đă sang
tay nhiều người. Anh bạn th́ thầm:
- Ở ngoài Bắc dân họ c̣n khổ
hơn ḿnh rất nhiều. May mà ḿnh ở trong
Tối hôm đó, nằm trên gác vắng,
tôi moi ở túi quần ra 3 tờ giấy in cái truyện có
nhan đề “Cái đêm hôm
ấy… đêm ǵ?” Tác giả là Phùng Gia Lộc cũng chính
là nạn nhân của cái đêm hôm ấy. Đọc một
mạch xong cái truyện, tôi bỗng lạnh ḿnh, ghê rợn,
ghê tởm cho cái xă hội nông thôn miền Bắc và tự
hỏi sao miền Bắc lại đói khổ đến
như vậy mà bọn cường quyền địa
phương sao có thể ác đến cái độ vô tâm,
mất nhân tính như thế được. Cộng
sản là như thế sao? Thực chất cách mạng vô sản
là như thế sao?.
Năm 1975, Việt cộng vừa
cưỡng chiếm miền
Vào miền
Hồi tưởng lại lúc c̣n trong tù,
ngày nào cũng như ngày nào, từ 6 giờ sáng đến
6 giờ chiều, cuốc đất, cấy lúa, làm
cỏ… nói chung là lao động đủ kiểu từ
đồng ruộng đến núi rừng, đốn cây
đẵn gỗ… tuy cực khổ đó nhưng vẫn
có cái ăn, dù ít, dù ăn độn sắn khô, ăn
độn bo bo… vẫn không có cái cảnh bị đói,
bị đối xử tàn ác như ở trong truyện,
thực cảnh của những xă, thôn miền Bắc.
Câu truyện “Cái đêm hôm ấy… đêm
ǵ?” cứ ám ảnh, đè nặng măi trong tâm trí tôi.
Nhiều đêm ngủ tôi cứ thấy ác mộng ḿnh là
người đang trong cuộc. Người dân đă
đói sắp chết đến nơi mà vẫn cứ
phải “nộp sản” cho đủ chỉ tiêu của
đảng đưa ra. Không có thóc để nộp
đủ th́ đảng có biện pháp mạnh.
Hăy nghe tác giả kể lúc bọn dân quân
sục vào nhà:
“… Ngồi ở bếp tôi hỏi
vợ: - “Nhà ḿnh c̣n thiếu của hợp tác xă bao nhiêu thóc
nữa em?
Cô ấy không trả lời tôi mà nói
rất vô lễ: - “Có biết thế này, đái ṭe ṭe vào,
chứ tội ǵ lôi về. Cha đời! Bữa
trước th́ tuyên bố vớt được nấy
ăn nấy, người ta mới hụp lặn
xuống nước lụt mà gở từng bông lúa. Nay
lại giở tṛ giảm tỉ lệ. Tôi vỗ về: -
“Thôi! Lụt th́ lụt cả làng, em ạ! Em nói xem, so
với tổng sản phải nộp, nhà ta thiếu bao
nhiêu? – “Một tạ mười hai cân, em đă tŕnh bày
với nhà anh Đội trưởng rồi.
…
“Bỗng
tiếng kẻng gơ giục giă liên hồi. Kẻng
khắp xă: Từ đội 1 đến đội 15,
như một sự bùng nổ dây chuyền. Tiếng loa
phóng thanh mở hết cỡ đọc bản tin, kế
hoạch huy động lương thực của tỉnh
và chỉ thị của tỉnh ủy về công tác
lương thực. Hoàng văn Nhân, đội
trưởng đội 12, đọc lên loa danh sách
những nhà thiếu thóc chưa giao nộp cho hợp tác xă.
Đèn đóm soi rừng rực ở các ngă
đường. Chó sủa ơi là chó sủa.
… Gần một giờ sáng, công an, dân
quân đă ập đến các nhà nợ thóc. Tiếng chó sủa
vang, tiếng lợn kêu èng ẹc như bị chọc
tiết ở các nhà chung quanh…
Bên nhà ông Ái, láng giềng cách nhà tôi
một hàng rào, công an và dân quân đang lùng sục. Tiếng
ông bà Ái kêu xin và tiếng quát lác, tôi nghẽ rơ mồn
một. – “Cứ bắt
lấy cái xe đạp! Phích, xô, bắt ráo!
Ở cổng nhà tôi đă có bước
chân ŕnh rịch, con chó mực đang có chửa bị
quất, kêu ư ử.
Cạch cạch cạch.
- Chị c̣ Lộc, mở cửa
ra!
Tiếng thằng bé trong buồng khóc
thét. Thằng Thức đang ôm tôi, nghe em khóc cũng ̣a khóc
toáng lên. Thằng Học 12 tuổi đă học lớp 8
rồi, mà cũng níu lưng tôi run bắn. Nghe tiếng quát
lần thứ hai, từ nhà bếp, tôi chạy lên. Một
luồng đèn pin soi giữa mặt làm tôi lóa mắt,
phải lấy tay che.
- Có chuyện ǵ đấy, các
bạn trẻ ơi?
- Thu thóc, thu thóc chứ c̣n ǵ, ông
đừng hỏi vờ.
…
Chợt vị “hộ pháp” nh́n chằm
chằm vào cổ quan tài để dưới gầm bàn
thờ, rồi đi lại, vừa gơ vừa hỏi:
- “Cái ǵ trong
này chị Lộc? - Im lặng…
– “ Cái ǵ trong này, chị nói mau?
Vợ tôi ấp úng. Tôi muốn tắt thở. – “Có cái
ǵ đâu… Mấy vị hăm
hở lại, đạp lật nghiêng môt cái. Nắp ván
thiên bung ra, lúa chảy rào rào. Cả toán reo lên như một hiệp đào vàng trúng
vỉa: - “A! Lúa!! Lúa! Lúa! Anh em ơi . Ghê thật! Thế mà
giả nghèo giả khổ. Mẹ tôi chống gậy vái dài:
- ‘Van các anh! Cắn rơm cắn cỏ tôi lạy các anh!
Lúa của tôi. Đó là tạ lúa của hai đứa con gái
hắn mua góp lại cho, để hôm sau tôi chết, bà con
thương mà chạy đến ăn lưng cơm
sốt”.
Bà cụ nói như rên rẩm: - “Đă
bảo xây phứa đi cho con nó ăn không nghe. Cứ bóp
mồm bóp miệng, để dành làm chi. Sống chả
thấy đâu nữa là”!
Một tay râu tóc lồm xồm hỏi: -
“Chị có gánh đi hay không th́ bảo”?
… Họ xúm vào khiêng bàn thờ ra
để lôi ḥm lúa. Bất đồ hai thằng Học và
Thức từ bếp tuôn lên, ôm lấy chân chư vị,
van rối rít: - “Cháu van các chú! Các chú đừng lấy lúa
này đi. Lâu nay các cháu phải nhịn để dành
bữa sau cúng cỗ bà, làm ma bà”! – “Buông ra đi! Ô hay!
Đồ con nít”!
Bà cụ loạng choạng đi
lại, giơ gậy cản: -“Các ông không thương
trẻ, th́ các ông thương lấy thân già, để
lấy phúc đức cho con cháu. V́ họ đá vấp
gậy, lại yếu như con căng cắc lột, bà
cụ ngă chỏng queo như chiếc ghế đổ. – “Ôi
Đảng ôi là Đảng ôi! Chính phủ ôi… Trông xuống
mà coi…”
Tôi xốc mẹ lên giường,
bịt mồm cụ lại: - “Mẹ! Mẹ không
được la như thế! Đây không phải
Đảng! Đảng ta không làm thế! Đảng không
chủ trương thế này!
Tôi nói vậy và ngoặp hai hàm răng vào
cổ tay ḿnh để ḱm giữ cái ǵ cứ chực tung
ra.
… Việc thật ở nhà tôi đêm 26
tháng 11 năm 1983, người ngoài cuộc hẳn cho là ḿnh
bịa. Cho đến nay, mỗi khi nghĩ đến, tôi
cứ thảng thốt hỏi ḿnh: -“ Cái đêm hôm ấy…
đêm ǵ?”
Năm 1950 ông Hồ lănh chỉ thị
từ Liên Xô, Trung Quốc về nước cùng với
Trường Chinh - Đặng xuân Khu phát động chính
sách “Cải cách ruộng đất” long trời lở
đất ở miền Bắc, gần 6 năm, chấm
dứt vào mùa Thu năm 1956, giết oan hơn ba trăm ngàn
người dân quê vô tội bị qui kết là thành phần
địa chủ (thật ra chỉ là trung nông) để
thi hành chế độ cộng sản. Sau khi bị dân
chúng lên án, nguyền rũa lên tận trời xanh, ông Hồ
giả vờ khóc lóc nói là sai lầm, đẩy Vơ Nguyên Giáp
ra làm con vật tế thần để xin lỗi với
nhân dân và hứa sẽ tiến hành sửa sai. Trong khi đó
ông Hồ và Trường Chinh lánh mặt thay v́ phải
chịu trách nhiệm nặng nhất về tội ác này.
Tuy nhiên cái việc mà đảng và Chính
phủ của ông Hồ sửa sai đă tiến hành như
thế nào? Ta hăy nghe những người nông dân khốn khổ
sống sót sau đợt “cải cách” đó kêu rêu:
Bác Hồ
nói chuyện sửa sai. Sai rồi cứ sửa, sửa
rồi cứ sai.
Đảng
ta có lắm anh tài. Sai hoài sai măi, sửa hoài cứ sai.
Rơ ràng là thủ đoạn gian hùng
của Tào Tháo bằng cách “tát bùn sang ao” hoặc là “lùi
một bước tiến ba bước”, cứ thi hành
chính sách trước sau như một, ông Hồ và đám
hậu duệ của ông không thể đi chệch
hướng của đảng cộng sản Trung
Quốc đề ra. Lâu lâu để “xả nồi xú
bắp” ḷng căm phẩn của dân lại nói là “sai
lầm” rồi “sửa sai”. Cứ như thế, ông Hồ
cho bọn đàn em tiếp tục con đường
sắt máu dài dài.
Thời gian từ năm 1956 với
“Cải cách ruộng đất”, đến 1983, câu
chuyện vô cùng “đen tối và bi thảm” ở nông thôn
“Cái đêm hôm ấy… đêm ǵ?” của Phùng Gia Lộc,
đă cách nhau gần ba mươi năm, sao vẫn cứ
giống nhau như đúc.
Câu chuyện “Cầu cho bạo chúa
sống lâu” trong Cổ Học Tinh Hoa tuy có cay đắng
mỉa mai nhưng vẫn cứ đúng với đảng
cộng sản Việt
Ngày Hồ bạo chúa c̣n sống, chỉ
những ai thuộc thành phần trí, phú, địa, hào
mới bị “đào tận gốc trốc tận rễ”
để tiêu diệt, để chỉ c̣n lại toàn là
bần cố nông, tạo ra một giai cấp mới, xây
dựng một xă hội mới, Xă hội Chủ nghĩa.
Đó là một thiên đàng ảo tưởng mà chủ
nghĩa cộng sản Quốc tế nói chung, cộng
sản Việt
Giờ đây bạo chúa Hồ đă
chết, những kẻ kế thừa nối ngôi c̣n
bạo tàn hơn Hồ nhiều. Bọn chúng càn quét
triệt hạ, bóc lột luôn cả cái đám “dân ngu khu
đen, khố rách áo ôm” mà ngày xưa chúng lợi dụng làm
lực lượng ṇng cốt trong việc truy bức
đấu tố, không chừa một ai cả.
Thảm cảnh đêm 26 tháng 11 năm
1983 ở xă Phú Yên, huyện Thọ Xuân đă nói lên hết
cái thủ đoạn tàn độc họ đă dùng
để đem lại “ấm no hạnh phúc của thiên
đường cộng sản”. Tập đoàn bạo chúa
Duẫn, Đồng nối tiếp xây dựng, tṛn trèm
một phần ba thế kỷ, đă đạt
được kết qủa vô cùng tốt đẹp!.
Tốt đẹp đến độ vợ của tác
giả câu truyện “Cái đêm hôm ấy… đêm ǵ?” đă
quá “sướng” mà “ca” lên rằng:
- Chả
nhẽ kiếm liều thuốc chuột, cho vào nồi
cháo, ăn hết cả nhà cho sướng cái đời…
Nhờ gần 6 năm “học tập
cải tạo” trong nhà tù nhỏ của bạo quyền
Cộng sản, tôi đă thấy được sự gian
trá vô cùng ác độc và nham hiểm một cách tinh vi
của Việt cộng nên tôi không bao giờ tin bất
cứ một điều ǵ cộng sản nói cả. Cho
nên, chúng dù có “đổi mới” có “thoáng”, có tự do, dân
chủ “gấp ngàn lần tư bản” đi nữa tôi
cũng nhất quyết đùm túm gia đ́nh ra đi. Cái
sự thay đổi của chúng giống như con tắc
kè đổi màu da tùy lúc, tùy nơi. Bản chất vẫn
là con tắc kè. Tôi ra đi để t́m cái tự do đích
thực dù chỉ nhỏ bằng một phần ngàn cái
tự do bánh vẽ của cộng sản đang phô bày
để tuyên truyền lừa gạt nhân dân trong
nước.
…
Sau 15 năm sống và làm việc ở
cái xứ tư bản chuyên “bóc lột và hút máu
người lao động”, vợ chồng tôi đến
tuổi nghỉ hưu, đă dành dụm được
một số tiền đủ có thể về quê nhà
ở Việt Nam, tậu một căn nhà nhỏ, xung quanh
có chút vườn trồng năm ba cây cảnh để
vui thú tuổi già cho hết quăng đời c̣n lại.
Đó là niềm mơ ước nhỏ
nhoi của nhiều kẻ ly hương trong tuổi
xế chiều.
Khi biết được ư định
của chúng tôi, ông nhạc tôi năm nay đă 86 tuổi,
đă bỏ chạy khỏi miền Trung từ cái
độ “9 năm kháng chiến” lúc hăy c̣n thanh niên, gia
đ́nh bị đấu tố, đă vội vàng khuyên:
- Các con à! Cái bọn Cộng sản dù có
ba mươi năm, năm mươi năm sau nữa
vẫn cứ sắt máu y ś. Giờ đây người
trong nước, dù đă hơn ba mươi ba năm ḥa
b́nh lập lại, nhiều
người cũng vẫn đang t́m cách ra đi th́ các con
không có lư do ǵ để dại dột lần thứ hai
nữa mà mơ ước trở về. Các con luôn hăy
nhớ lời ông Thiệu nói.
Sau đó ông gửi qua cho chúng tôi một
tờ báo, trong đó có bài viết của tác giả là nhà
văn, nhà thơ Nguyễn Quang Thiều với nhan
đề: “Quy trữ tài
sản tương đương” nhưng theo báo điện tử
Dân Trí thay bằng cái tít “Chuyện
khó tin ở vùng quê đau khổ” vẫn c̣n cho là
nhẹ, không diễn tả hết nội dung sự
việc.
Đọc xong bài báo, tôi bỗng thấy
bàng hoàng. Cái xúc cảm chán ngán buồn rầu lẫn
lộn với cái phẫn nộ căm hờn hơn ba
chục năm nay tưởng chừng như đă phai
nhạt ít nhiều đối với cái chế độ
bất nhân, tàn độc của cộng sản trong tôi,
giờ lại bùng lên mănh liệt.
Mấy năm gần đây, chúng ra
sức kêu gào “ḥa hợp ḥa giải dân tộc” để
lôi kéo người Việt hải ngoại trở về
góp sức xây dựng đất nước. Nào là “quê
hương là chùm khế ngọt”, nào là “khúc ruột ngàn
dặm” nào là “một phần xương thịt không
thể tách ĺa”, nào là “Việt kiều yêu nước” vân
vân… nghe rất thân thương, âu yếm, lời lẽ quay
ngoắt 180 độ với miệng lằn lưỡi
rắn, đầy sắt máu cuồng sát của chúng
trước kia.
Nhưng
đằng sau những lời đường mật chiêu
dụ người Việt hải ngoại như thế,
th́ thực tế trong nước tập đoàn bạo
quyền Hà Nội đă cai trị người dân như
thế nào?
Ta hăy theo dơi bài phóng sự của
Nguyễn quang Thiều.
Bài báo được mở đầu
bằng cách giới thiệu về những “tuyệt chiêu”
mà con cháu của “Bác Hồ” đang áp dụng tại Thanh
Hóa - mảnh đất lắm tài, nhiều tật
thuộc bậc nhất Việt Nam. Trong số những
“tuyệt chiêu” của chính quyền địa phương
để thúc dân làm phận sự đóng góp có bí kíp “Quy
trữ tài sản tương đương”. Nghĩa là,
không có tiền đóng góp th́ cán bộ, công an đến nhà,
thấy có ǵ đáng giá khuân luôn về xă…
Ôi ! Ba mươi năm trước, ba
mươi năm sau, chính sách tàn bạo ấy vẫn y
hệt không hề thay đổi.
“Nếu như ngày xưa, Hồ Chí Minh
từng dơng dạc tuyên bố với toàn thể
đồng bào trong nước và nhân dân quốc tế
về “hằng trăm thứ thuế vô lư, làm cho dân ta,
nhất là dân cày và dân buôn trở nên bần cùng” th́ 63 năm
sau cái bản tuyên ngôn bất hủ đó, đảng
cộng sản lại cho “quan” xă xiết nợ cả… quan
tài – cái mảnh gỗ cuối cùng đưa mỗi
người về chốn linh thiêng.”
Hiện nay xă Hải Lộc, huyên Hậu
Lộc, Thanh Hóa c̣n gần 60% hộ đói nghèo, con số
này những năm trước c̣n cao hơn. Vậy mà
gần chục năm qua, bà con nơi đây vẫn
phải vẹo lưng gồng gánh những khoản
đóng góp, khoán phạt lạ lùng. Ai không có tiền đóng
th́ sẽ bị chính quyền địa phương dùng
“biện pháp mạnh”, chà đạp lên nghĩa xóm, t́nh làng.
Lượt tóm chuyện của bài báo:
“Quan”
xă xiết nợ cả… quan tài
Về Hải Lộc, theo sự chỉ
dẫn của người dân, tôi tấp vào nhà của ông
Nguyễn văn Thủy, ở thôn Lạch Trường.
Trong căn nhà tuềnh toàng, ông Thủy dở khóc, dở
cười kể lại câu chuyện bị bắt bộ
ván canh v́ thiếu nợ.
- Chẳng biết những khoản
tiền ǵ mà mỗi năm nhà tôi phải đóng tới
mấy trăm ngh́n. Cái ăn hàng ngày c̣n phải c̣ng lưng
t́m kiếm th́ số tiền ấy, với gia đ́nh tôi,
quả là quá lớn. Hôm ấy, khi tôi đi biển về,
thấy vợ sụt sịt ngồi khóc, hỏi, bà
thuật lại câu chuyện, khiến tôi thấy trời đất như
chao đảo quay cuồng. Th́ ra trong lúc tôi đi làm, chính
quyền xă và thôn đă ập vào “quy trữ tài sản”,
nghĩa là tịch thu đồ vật tương
đương. Nhà duy chỉ có mấy tắm ván canh, tôi
tậu pḥng xa lo hậu sự cho ḿnh, là đáng giá nên
họ khuân đi.
Ông bảo, khi ấy, tiếc mấy
tấm ván th́ ít, mà cay đắng về cách hành xử
của những người được coi là
“đầy tớ của dân” th́ nhiều. Khốn nạn
thay cái kiếp nhà nghèo! Đến mấy tấm ván hậu
sự mà cũng không giữ
được th́ mặt mũi đâu mà thấy mọi
người.
Hơn năm sau kể từ ngày kinh
hoàng ấy, anh Nguyễn văn Năm, con trai út của ông
từ
Theo ông Nguyễn văn Chiến -
Trưởng công an xă – “Quy trữ tài sản” là việc làm…
cần thiết để chính quyền xử lư những
hộ gia đ́nh chưa thực hiện đầy
đủ nghĩa vụ đóng góp do Nhà nước và
địa phương quy định. Cụ thể nhà anh
Năm, chưa hoàn thành nghĩa vụ nên xă tiến hành
tạm thu mấy miếng ván trên…
Nhà
báo, dân quân, công an và nồi cháo trắng
Nhà chị Ngô thị Sáng cũng nằm
trong diện bị “quy trữ tài sản”. Năm ấy nhà
chị nợ hơn 100 ngh́n tiền đóng góp. Nhà những
chục người toàn trẻ con lít nhít nên làm chẳng
đủ ăn. Hôm cán bộ đến, chị đă
hết lời khẩn xin, nhưng họ không nghe. Cuối
cùng, thấy nhà chị có một chiếc bàn và một chiếc
ghế sa lông nan, họ đă khuân đi.
Lúc tôi đến (nhà báo) chị Sáng
đang cùng các con ăn trưa. Bữa trưa là nồi cháo
trắng cùng mấy con cá vụn. Cá này, dân biển bán
rẻ như cho. Đang hí hoáy ghi h́nh bữa ăn
đạm bạc ấy, không biết từ đâu 4-5 người mở cổng
ập vào. Lại là mấy cán bộ thôn “mẫn cán”
đến “nắm bắt t́nh h́nh”. Thấy chị Sáng
tiếp tục chia sẻ cùng tôi cuộc sống vất
vả, một thanh niên cắt ngang: - “Các anh ở đâu
thế nhỉ? Sao thấy là
lạ nhỉ?” Tôi dừng ghi, b́nh thản trả lời:
-“Tôi là nhà báo anh ạ”. Đang lúc đôi co th́ ông Nguyễn
văn Chiến - Trưởng công an xă đến. Ông
thừa nhận giấy tờ của tôi hợp lệ.
Nhưng một người tự xưng là trưởng
thôn gay gắt: - “Nếu chú mà ghi lại h́nh ảnh nồi
cháo th́ chú bỏ đi ngay! Tôi khẳng định nhà này là…
vớ vẩn!” Nghe ông trưởng thôn nói vậy, chị
Sáng ôm mặt khóc ̣a. C̣n nồi cháo th́ mắt trước
mắt sau, người ta đă đem đi đâu mất.
Theo yêu cầu của mấy người lạ mặt, tôi
lại về hội trường của thôn Thắng Hùng
để cùng họ… trao đổi công việc.
Tại hội trường, ông thôn
trưởng dặn tôi không được đưa h́nh
ảnh nồi cháo của chị Sáng lên báo, v́ như
thế th́ khác ǵ bôi xấu hàng ngũ lănh đạo thôn. Ông
nhấn mạnh, nếu tôi “cố t́nh” đề cập
đến vấn đề… không đẹp này, ông sẽ
có ư kiến ngay!
“Phép
công”… ông cứ làm!
Biết có nhà báo về, mấy bô lăo
ở thôn Hưng Thái cứ đạp xe lên xuống
kiếm t́m. Theo chân họ, tôi về thăm gia đ́nh
chị Liệu, nhà ở ngay mặt con đường
dẫn lên trung tâm xă.
Tṛ chuyện với chị Liệu chúng
tôi luôn được một công an viên kè kè bên cạnh.
Tiếp chuyện tôi, chị Liêu không cầm
được nước mát. Chị bảo, chị không
biết chữ và cũng ít đi ra ngoài. Thế nhưng,
trong thâm tâm ḿnh, chị tin chắc một điều
rằng chẳng có nơi đâu người dân lại
khổ như đất này.
Đợt cao điểm “Quy trữ tài
sản” năm 2004, gia đ́nh chị bị tam thu một
chiếc ti vi, tài sản đáng giá duy nhất lúc đó. Sáng
hôm ấy chị đang lúi húi nấu cơm c̣n chồng
chị bế con th́ “đoàn công tác” tấp vào nhà. Không thu
được những khoản nợ đọng,
đoàn tạm thu luôn chiếc TV. Thấy nhà bỗng
dưng “mất” của, chị nước mắt như
mưa. Van nài, xin xỏ, nhưng v́ “việc công” những
“công bộc của nhân dân” vẫn không hề xúc
động. Năm sau, cào cấu vay mượn
được chút tiền, chồng chị lên xă xin
“chuộc lại” chiếc ti vi. Thế nhưng chẳng
hiểu họ bảo quản thế nào đem về
được nửa tháng th́ câm tịt. Tiếc của
chị lại khóc tu tu.
Nhà báo Nguyễn quang Thiều sau khi
đưa ra vài h́nh ảnh tượng trưng trong bài phóng
sự dài hơi của ông ở nông thôn để minh
họa bộ mặt thực của cái gọi là xă hội
Xă Hội Chủ Nghĩa “văn minh tiến bộ
độc lập tự do hạnh phúc” nó là như thế,
ông minh định lập trường của ḿnh:
“Những ǵ tôi đang nói về nông thôn
và nông dân Việt
Chao ôi! Những ǵ của 50% c̣n lại mà
ông Thiều không dám phơi lên mặt báo đó là xử
bắn, chôn sống, đập đầu bằng
lưỡi cuốc, bồ cào đối với những
hộ nào nghèo quá không có vật ǵ đáng giá trong nhà
để “đoàn công tác” có thể “Quy trữ tài sản”
tịch thu khuân đi, mà năm 1950 trong đợt “Cải
cách ruộng đất” “Đội cải cách” đă làm
chứ ǵ?
Dù ông không nói ra, nhưng người ta
cũng đă đọc thấy ư ông ở đàng sau
dấu chấm.
Tội nghiệp cho ông Thiều, một
ḿnh ông đứng giữa 14 ngàn bồi bút chuyên nịnh
đảng, bẻ cong ng̣i viết, cúc cung ca tụng
chế độ và đánh phá, bôi bẩn, vu khống
kết án những ai dám nói lên sự thật xấu xa
của chế độ dù chỉ 50 phần trăm như
ông đă dám làm, để kiếm chút cơm thừa canh
cặn nhét cho đầy cái túi cơm và bám vững chổ
cho cái giá áo, liệu ông có cô đơn và có nơm nớp
sợ hăi cho đến lúc chết như nhà văn
Nguyễn Tuân tự thú trước khi nhắm mắt không?
Dù sao ông cũng đáng khâm phục
lắm lắm khi đang ở giữa ḷng chế
độ, một chế độ bất nhân, đi
ngược lại ḷng dân, mà dám hiên ngang khẳng
định một cách mạnh mẽ:
“Có lẽ những người lái tàu
đang tự thỏa măn khi thấy con tàu đang chạy
với tốc độ cao về phía trước. Họ
nghĩ, cứ đà chạy như thế, chẳng
mấy chốc con tàu sẽ đến đích. Nhưng, khi
đă chệch đường ray th́ tốc độ cao
chỉ dẫn đến một tai nạn không
lường mà thôi.”
Cái đích và cái tai nạn ông Thiều
tiên đoán đang đứng chờ lù lù bên triền
vực thẵm, phía trước mặt của Nhà
nước cộng sản Việt
Đă ba mươi ba năm rồi
kể từ ngày Việt cộng cưỡng chiếm
miền Nam bằng bạo lực, sáp nhập hai miền
Nam Bắc thành một, gọi là thống nhất
đất nước, áp đặt người dân
dưới ách nô lệ phong kiến kiểu mới, rập
khuôn theo mẫu quốc Trung cộng, vẫn cứ sắt
máu trong cách cướp bóc tài sản nhân dân để làm
giàu cho bản thân, cho tập đoàn thống trị
của ḿnh giống y như thời kỳ “Cải cách
văn hóa” của Mao Trạch Đông, tiến sang thời
“Cải cách ruộng đất” của Hồ Chí Minh.
Chỉ có điều bây giờ, thay cái
b́nh mới, rượu độc vẫn y như cũ.
Danh từ “Cải cách ruộng đất” thay bằng “Quy
trữ tài sản”. “Đội cải cách” thay bằng
“Đội công tác”. Bọn khuyển ưng khuyển mă chuyên
lùng sục đầu hè, xó bếp thay bằng “công an nhân
dân”.
Ngày xưa ở trong rừng mới ra, c̣n
ấu trĩ, đảng ta đi ăn cướp theo
lối thảo khấu lục lâm nên lộ liễu quá.
Giờ đây, đă là thế kỷ 21 rồi, đảng
ta đă có nhiều thạc sĩ, tiến sĩ
được đào tạo từ Liên Xô, Trung Quốc
trở về, học được những ngón nghề “thần
sầu quỉ khốc” của các sư tổ, nên cách
ăn cướp và hà lạm nhân dân rất tinh vi, hợp
pháp lắm.
Đó là cách Đảng ta và Nhà
nước ta lập ra cái gọi là Ṭa Án kiêm luôn ba chức:
làm luật, thi hành luật và xử luật nên dân oan có
miệng cũng không thể kêu trời để minh oan.
Và những quan tham cũng
được cái Toà án này che chở cho một cách an toàn.
Những vụ án dàn dựng trơ
trẽn trân tráo mới đây đă minh chứng hùng hồn
cho những điều nói trên. Khỏi cần kê ra đây làm
chi cho phí giấy.
Lời ông nhạc tôi khuyên: Ba mươi
năm trước, ba mươi năm sau cộng sản
cứ vẫn là cộng sản, sắt máu vẫn là
bản chất không thay đổi của chúng.
Có lẽ câu khuyên này giá trị chẳng
kém câu nói của ông Thiệu.
Tôi từ bỏ hẵn ư định
về di dưỡng tuổi già ở quê nhà. Khế quê
hương không có vị ngọt như lời rao hàng
của những người cộng sản lũ
lượt kéo nhau ra hải ngoại rao bán.
Khế quê hương giờ đây
đă bị tẩm bởi những hóa chất nhập tràn
lan vô tội vạ từ Trung Cộng nên có vị chua lè,
chát ngắt và đầy độc tố chết
người.
Ở xứ người tuy không có
khế cho con cháu tôi “trèo hái mỗi ngày” nhưng có một
bầu trời không khí tự do bao la cho chúng tha hồ hít
thở. Con người cần không khí tự do để
sống hơn là khế ngọt. Không ăn khế ngọt
cũng chẳng sao, huống chi là khế độc.
Cái không khí tự do trân quí mà hơn
nửa triệu người Việt phải bỏ thây trên
rừng sâu nước độc, dưới ḷng biển
cả để đánh đổi, hiện tại cái quê
hương có chùm khế ngọt chưa có. Bạo
quyền cộng sản Hà Nội vẫn là những tay
đầu nậu ác ôn bao thầu “trọn gói”, chúng toàn
quyền ban phát.
Đó là lư do tại sao người
Việt hải ngoại vẫn phải quyết tâm
chống cộng dù đă hơn ba mươi ba năm,
để tranh đấu dành lại kỳ được
cho 80 triệu đồng bào trong nước đang thoi
thóp thở. Họ sẽ không bao giờ cam chịu cảnh
“phân phối”, “xin cho” không khí để thở theo kiểu
tem phiếu đong đo một lần nữa.
Xin quí vị “Vịt kiều iu
nước” sắp xênh xang áo gấm về làng nên “cẩn
tắc vô áy náy” cho chắc ăn, để khi bị ViXi
tráo hàng giả, lúc ấy có hối, lui chân cũng c̣n
kịp./.
Nguyễn
Thanh Ty 10/4/09