Nguyễn
Thanh Ty
Ác Nhân Dị
Sử
Đỗ
Mười thuở nhỏ bẩm chất đần
độn, học hành dốt nát, chỉ ham chơi, không
thiết việc đến trường. Bố mẹ
đánh mắng lắm Mười cũng chỉ cố
đến lớp ba trường làng là hết mức.
Ngày ngày giả vờ ôm cặp ra khỏi nhà
là giấu vào bụi rậm, đi lêu lỏng cùng bọn
“nhân dân tự phát” nghịch ngợm phá xóm, phá làng. Người trong làng, xă ai ai cũng kiềng
mặt Mười.
Đến năm
18 tuổi, bố mẹ già yếu quá không thể nuôi
được Mười nữa. Mười chẳng biết
nghề ngỗng ǵ làm để nuôi thân, lâm vào cảnh
đói rách triền miên. Một hôm, có
người hoạn lợn từ phương xa vào làng
Mười để hành nghề. Bản
tính vốn du côn, ưa chơi dao búa, Mười thấy
ông thợ hoạn khua dao cắt dái lợn, máu me
đầm đ́a th́ lấy làm thích thú lắm. Bèn xin theo học nghề. Học
chữ nghĩa th́ tối dạ nhưng học cầm dao
th́ Mười tỏ ra có năng khiếu vượt
bực. Chỉ sau ba lần cầm dao thực
tập, sư phụ “hoạn trư” rất hài ḷng đă
t́m được đệ tử chân truyền nên cho phép
Mười xuống núi, ra tay hành hiệp, tế độ
loài heo.
Từ đó, ngày ngày Đỗ Mười
đi khắp xă Đông Mỹ, quê của hắn, thổi
sáo toe toe, toét toét, rao thiến lợn, kiếm ăn. Tay nghề xuất sắc,
tiếng lành đồn xa, cả cái huyện Thanh Tŕ, Hà
Nội, những nhà có nuôi lợn, ai ai cũng cố
mời cho được Mười đến nhà ra tay
“giải phóng” dùm “của nợ” bầy heo của ḿnh. Tiền công trả rất hậu hỉ.
Đời sống của Mười phất lên, tuy không
giàu có ǵ cho lắm, nhưng chuyện rượu “quốc
lũi”, thịt chó th́ tha hồ ngất ngưỡng
thường xuyên với đám “nhân dân tự phát” ở các
bến xe, bến đ̣. Đêm nào Mười cũng say be
bét, ḅ lê, ḅ càng trở về nhà.
Lời khuyên răn, dạy
bảo của bố mẹ, Mười bỏ ngoài tai. Đôi khi c̣n sừng sộ
mắng trả.
Một
ngày kia, Mười đang xắn tay áo,
múa dao chăm chú thiến heo th́ có một người
đứng chắp tay sau đít, theo dơi từng
động tác của Mười. Xong
việc, Mười ngẫng lên, thấy một lăo già
ốm nhom, má hóp, trán hói, mắt sâu, râu lưa thưa
dưới cằm, đang chắm chăm nh́n ḿnh,
miệng đang tủm tỉm cười.
Mười tưởng lăo già đang chế nhạo
nghề hoạn lợn của ḿnh nên nổi cáu, sừng
sộ giọng du côn:
-Ê!
Cười cái đíu ǵ thế? Chưa bao giờ thấy người ta thiến
lợn à?
-À
không! Không dám đâu! Chẳng qua lăo thấy đường
dao của chú khéo quá nên hâm mộ đứng xem chơi
ấy mà!
Thấy
người khách ra điều nhỏ nhẹ, lại khen
ḿnh nữa nên Mười khoan khoái trong ḷng, bèn dịu
giọng lại, cười cầu tài:
-Thế
ông có muốn tôi đến nhà để “giải phóng” cho
bầy lợn của ông không?
-Ta
chả có heo qué ǵ để mời chú đến “giải
phóng” nhưng thích tay nghề của chú
nên muốn mời chú hợp tác trong việc làm ăn
lớn. Chú có muốn không?
-
Công việc của ông có liên quan ǵ đến nghề
thiến lợn của tôi mà hợp tác?
-Nghề
làm ăn của ta cần có người
biết cầm dao khéo và gan dạ như ngươi!
-Nhưng
thú thật, gan th́ có đủ nhưng đường dao
th́ vẫn chưa được điêu luyện lắm.
Thiến mười con th́ ba con
bị nhỡ dao phải làm thịt. - Mười vờ
khiêm tốn.
-Ta
chỉ cần phân nữa ấy cũng đủ lấy
thiên hạ rồi.
-Mà
nghề của ông làm ǵ? Tôi phải biết mới theo đượcchứ?
-Nghề
bán nước!
Đỗ
Mười phá lên cười hô hố:
-Ối
cái thứ nước vối bán ở mấy cái quán
dọc đường, hay theo bến xe
đ̣ ấy khấm khá thế quái nào bằng cái nghề
hoạn của tôi? Thôi đi ông ơi! Cho tôi vái cả nón!
-Ấy!
Chú chớ có hiểu lầm! Nước đây nói theo
tiếng Đại Hán là “giang sơn ”,
là đất nước chứ chẳng phải cái
thứ nước vối tầm thường của chú
tưởng đâu đấy!
Mười
cười mỉa:
-Gớm
nhẻ! Thế ông là ai, có quyền hạn ǵ
mà có thể đem nước ra bán? Làm
vua chắc?
-Ta là ai th́ chú chưa cần
biết vội. Chỉ
biết rằng nếu chú chịu theo ta
th́ sau này sẽ được quyền chức, giàu sang
tột đỉnh, con cháu vinh hiển suốt đời. Thế nào có chịu không?
Thấy
nói đến giàu sang, quyền chức, Mười sáng
mắt lên nhưng c̣n ngần ngại:
-Việc
này trọng đại, tôi không thể tự ḿnh quyết
được! Để tôi về hỏi
bố tôi xem sao đă rồi giả nhời ông sau.
-Ừ!
Thế th́ tốt. Nhưng
phải nhanh nhanh lên mới được.
-Nhưng
lúc đó biết t́m ông ở đâu?
-Cứ
đến Cao Bằng, vùng biên giới Hoa-Việt, hỏi
thăm người dân ở đấy, t́m đến hang
Pắc Pó, gặp Hồ chí Minh, tự khắc người
ta sẽ chỉ cho.
Nghe
nói tên Hồ Chí Minh, bất giác Đỗ Mười
hoảng hốt, sụp xuống lạy như tế sao:
-Đỗ
Mười này là kẻ ngu hèn đáng
chết, có mắt mà không ngươi, không biết Ngài là
“cha già dân tộc”. Bố tôi cứ nhắc đến Ngài
như là bậc anh hùng đời nay sánh với Tào Tháo
thủa xưa. Xin Ngài thứ tội chết cho!
Già
Hồ đưa tay đỡ
Mười đứng lên rồi ôn tồn bảo:
-Được
rồi! Không biết là không có tội. Đừng
gọi ta là Ngài, phong kiến, cổ hủ lắm. Hăy
gọi ta là “Bác” hay “Cha già dân tộc” cho có vẻ cách
mạng và thân t́nh trong nhà.
Nói xong, lăo già Hồ tḥ tay vào túi áo
phía bên tay trái móc ra gói thuốc Ăng Lê Phillip Moris mời
Đỗ Mười một điếu để gọi
là kết giao t́nh đồng chí. Đỗ Mười
đưa cả hai tay ra run run đỡ lấy
điếu thuốc quí rồi giắt vào mép tai chứ
không dám hút.
Già Hồ miệng tủm tỉm
cười, lại đưa tay vào túi áo phải, móc ra
một bịch nhựa đựng giấy quyến,
thuốc rê, rồi quấn một điếu “bốc
lăn xe” to như sâu kèn, le lưỡi ra liếm ṿng tṛn
điếu thuốc, ngậm vào miệng, bật quẹt
lửa đốt thuốc. Hít hít mấy hơi, xong
bảo:
-Nào chú hăy
hút với Bác đi chứ, đồng chí Mười!
-Dạ em không dám đâu. Bác hút
“bốc lăn xe” th́ em nào dám hút thuốc của đế
quốc!
-Đừng ngại! Bác mời!
Khách quí Bác mới mời đấy! Mà quí v́ cái tài múa dao
của chú nữa đấy. Nào! Hăy hút v́ tinh thần cách
mạng vô sản của chúng ta! Hẹn sớm gặp
lại. Chào nhé!
Già Hồ đă đi khá xa mà
Đỗ Mười vẫn c̣n đứng ngẫn
người ra như kẻ mộng du, không hiểu lăo
ấy nói “cách mạng vô sản” là cái quái quỉ ǵ.
Mặc, miễn giàu sang là được. Mười
vừa bước đi, vừa lẩm bẩm trong
mồm:
-Ông đíu cần hiểu cách
mạng với vô sản là cái chó ǵ miễn có tiền, có
quyền là được!
Hôm ấy, Đỗ Mười
về nhà sớm hơn thường lệ. Ông bố
lấy làm ngạc nhiên v́ chiều nào Mười về
đến cửa là đă say khước, miệng lè nhè
những lời chửi thề, thô tục. Bèn hỏi:
- Hôm nay không có mối à? Về
sớm thế?
- Chả phải thế bố
ơi! Vào đây con bảo cái này!
Đỗ Mười kể
lại sự việc ban sáng cho bố nghe xong rồi
hỏi:
-Nghề hoạn lợn so với
nghề buôn vua khác nhau thế nào?
-Hoạn lợn là nghề ti
tiện, cơm kiếm được chỉ đủ
đút vào mồm, sánh làm sao được với nghề
buôn vua. Trúng mánh một phát là giàu sang, vàng bạc châu báu
cơ man nào mà kể, hơn cả Lă bất Vi đời
nhà Tần ấy chứ!
-Thế sánh với nghề buôn
nước th́ thế nào?
-Thế nào nữa? Đem
được giang sơn của tổ tiên ông bà, của
cả thiên hạ ra bán cho ngoại bang th́ lợi lộc,
của cải chất như núi, quyền cao, chức
trọng tột đỉnh. Muốn hô gió có gió, muốn
gọi mưa có mưa. Tám chục triệu dân nước
Việt này sẽ qú mọp dưới chân mày mà tung hô
“Hoàng đế Đỗ Mười muôn năm
trường trị, thống nhất giang hồ sống
măi trong quần… chúng” ấy chứ.
Mười nghe xong, ngữa
mặt lên trời cười to ba tiếng. Tiếng
cười nghe ghê rợn như tiếng lợn bị
thiến.
Hôm sau, Mười đem
hương đèn ra bờ sông tế lễ, bỏ
nghề thiến lợn, ném dao mổ xuống ḍng
nước. Từ giả bố mẹ già, quyết tâm t́m
đường lên hang Pắc Pó để hợp tác
với “Bác Hồ - Cha già dân tộc” mưu đồ
việc lớn. Trước khi đi, Mười thề
độc một câu:
-Không thành danh, quyết không
trở về cái xă Đông Mỹ, huyện Thanh Tŕ này!
Năm đó, 1939, Mười
đúng 22 tuổi, bỏ nhà theo già Hồ và đảng
Cờ đỏ, để đi ăn cướp.
Khi t́m được đến
hang Pắc Pó, gặp được già Hồ trên nhà sàn
Thượng, Mười sụp xuống lạy ba
lạy, xin được thu nạp. Già Hồ mừng
lắm, đưa tay đỡ Mười lên và
cười nói:
-Được chú đến
đây là phước lớn của Đảng ta! Mưu
lớn ắt phải thành.
Đoạn cầm tay Mười
dắt vào nhà trong, giới thiệu với hai người
đang có mặt trong pḥng.
-Để Bác giới thiệu cho
các chú quen biết với nhau. Đây là chú Giáp. Kia là chú
Đồng. C̣n đây là chú Mười. Ba chú hăy bắt tay
nhau và từ nay hăy gọi nhau là đồng chí nhé.
Ba người vừa
ngượng nghịu bắt tay nhau theo kiểu Phú Lăng Xa,
vừa cúi gập người xuống, nửa Âu, nửa Á
trông ngô nghê, buồn cười, mồm lí nhí chào:
Đồng chí! Rồi cả ba đều im lặng,
giữ kẽ.
Măi khi ngồi vào bàn uống
nước trà, đến tuần thứ ba, già Hồ
mới mở miệng:
-Hôm nay Bác rất vui, rất
thỏa măn trong ḷng là v́ Bác đă t́m được ba hào
kiệt trong đời chính là ba đồng chí sẽ giúp
cho Đảng, cho Bác sớm hoàn thành mưu đồ
đại sự. Lưu Bị ngày xưa cũng nhờ có
ba đại tướng là Quan, Trương, Triệu giúp
sức mà lập nên nhà Hán. Bác phân công cho ba chú như sau: Chú
Giáp lo đánh giặc bên ngoài, chú Mười lo dẹp
loạn bên trong, c̣n chú Đồng sẽ ngồi trong nhà sàn
cùng ta vạch định kế hoạch lúc tiến, lúc
thối. Nào! Các chú có nhất trí không?
Ca ba cùng đứng lên một
lượt, ṿng tay, cúi đầu cung kính đáp một
rập:
- Bác thật là anh minh thần vơ,
là đỉnh cao trí tuệ loài người! Chúng tôi
đồng ư, nhất trí với Bác. Đúng như nhân dân ca
tụng khắp trời rằng: “Bác Mao đâu ở nơi
xa! Bác Hồ ta đó chính là Bác Mao”!
Hồ Chí Minh ngồi nghe ba tên
Giáp, Đồng, Mười xun xoe nịnh hót, bợ
đít ḿnh như thế lấy làm vui vẻ, thích chí
lắm. Cứ đưa ray vuốt cḥm râu lưa thưa
của ḿnh, cười ruồi măi.
Kể từ đó, Mười
được Hồ giao cho quyền hạn rất
lớn, được quyền “tiền trảm hậu
tấu”. Từ năm 1945 đến năm 1955 Đỗ
Mười nổi tiếng như cồn về cuộc
đại càn quét “gián điệp” ở Hải Pḥng
với câu danh ngôn để đời: “Thà giết lầm
hơn bỏ sót”. Mười hoạt động hăng
say, tích cực trong các chủ trương lớn của
Mao-Hồ như “Cải cách ruộng đất”,
đại thanh trừng “Xét lại”, trù dập phong trào
“Nhân văn giai phẩm”, tắm máu nhân dân Quỳnh Lưu -
Phát Diệm… Đặc biệt là kư Nghị quyết
49/NQ/TYQH ngày 20/6/1961, cho phép công an bắt giam mọi công dân
mà không cần trưng ra chứng cớ, hoặc xét xử.
Tay nghề “họan lợn” năm xưa bây giờ
đổi sang cắt cổ người như ngoé đă
làm cho con đường “hoạn lộ’ Đỗ
Mười thênh thang mở rộng. Máu người dân vô
tội càng chảy nhiều bao nhiêu danh vọng, quyền
lực của Mười càng thăng tiến vùn vụt
bấy nhiêu.
Chỉ
trong ṿng hơn mươi năm, từ một Bí thư
Tỉnh ủy tỉnh Hà Đông năm 1946, Mười
nhảy lên chức Phó Thủ tướng kiêm Chủ
nhiệm Ủy Ban Kiến thiết Cơ bản Nhà
nước năm 1963. Năm 1973, Mười nắm
quyền Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng
Bộ Xây dựng cho đến năm 1991,
được bầu lên chức Quốc
vương, tức Tổng Bí Thư Ban Chấp hành Trung
ương Đảng cho đến 1997. Mười làm vua
chỉ được có 6 năm th́ bị Hoàng đế
Đại Hán là Giang Trạch Dân tước quyền,
lấy lại ngôi báu giao cho Lê Khả Phiêu.
Đáng ra, năm 1969 khi Hồ Chí
Minh sắp “chuyển sang từ trần” th́ Mười
sẽ được đề cử lên làm Quốc
vương thay ḿnh để trị v́ dân đen nhưng
bị hai soán thần là Lê Duẫn và Lê Đức Thọ âm
mưu đoạt ngôi theo cách của hai hoạn quan
Dịch Nha và Thụ Điêu ám hại vua Tề Hoàn công
thời Đông Chu là “cách ly” Hồ với mọi quan
hệ với bên ngoài và bỏ đói cho đến
chết.
Với tham vọng tóm thâu
đất nước vào một tay, năm 1968, Hồ Chí
Minh xua hết binh lực miền Bắc tấn công
miền Nam vào đúng ngày mồng Một Tết Mậu
Thân. Tưởng rằng đánh bất ngờ giữa lúc
dân miền Nam đang vui vẻ đón Xuân, rước ông bà
về ăn Tết với con cháu, sẽ không ai đề
pḥng chó cắn trộm. Nào ngờ, “vui Xuân nhưng không quên
nhiệm vụ”, quân dân miền Nam đă giáng trả
những đ̣n sấm sét làm cho bính lính già Hồ “sặc
máu”, tan tành binh giáp. Lớp chết, lớp bị
thương không biết bao nhiêu mà kề. Tàn quân kéo về
Bắc không c̣n được một phần mười.
Thua đau, nhục lớn, già
Hồ uất ức sinh ra tâm bệnh, nằm liệt
giường cả năm. Bọn Lê Duẫn và Lê
Đức Thọ từ lâu bị già Hồ xem là có cốt
tướng phản, không được tin dùng trong
những chức vụ quan trọng, chỉ cho hầu
cận bên ḿnh như những thái giám nên đem ḷng oán
hận. Bọn Duẫn, Thọ đă có âm mưu trừ
khử già Hồ để soán ngôi, nay cơ hội đă
đến, liền cùng nhau ra tay. Lấy cớ già Hồ
đang bệnh nặng không muốn tiếp kiến ai, hai
tên Duẫn và Thọ nhốt riêng già Hồ trong pḥng kín cho
kẻ thân tín canh giữ ngày đêm và bỏ đói, không cho
ăn uống ǵ cả. Đến ngày thứ mười,
già Hồ đói, khát quá, ḅ ra cửa, kêu người dâng
cơm nước. Kêu cả buổi chẳng có tiếng ai
thưa. Đến hơn mười ngày nữa,
người gầy rạc chỉ c̣n da bọc
xương, hai mắt lờ đờ, nói thều thào
không ra tiếng, chỉ ra hiệu bằng tay.
Đến lúc này, Duẫn, Thọ
mới triệu tập đông đủ Bộ Chính
trị lại bên giường để nghe di mệnh
của “Bác Hồ”. Lúc ấy, già Hồ không c̣n đủ
sức nói được nữa, cố giơ cánh tay
gầy xương chỉ vào miệng ḿnh rồi
chỉ vào Duẫn. Ư Hồ muốn nói: “Ta đói quá! Chính
thằng Duẫn bỏ đói giết ta!”. Nhưng mọi
người lại lầm tưởng già Hồ muốn
truyền ngôi cho Duẫn nên cả bọn sụp xuống
lạy vâng di mệnh và đồng tung hê: “Đồng chí
Lê Duẫn muôn năm”.
Già Hồ thấy bọn ngu này
hiểu lầm ư ḿnh, uất khí quá, miệng thổ ra
một đống huyết, mắt trợn ngược,
ngoẹo đầu sang một bên, tắt thở, đi
luôn một chuyến tàu suốt, chạy theo các bác Mác, bác
Mao đang chờ bên kia thiên đường Cộng sản.
Chỉ riêng mỗi ḿnh Đỗ
Mười là biết được ư của già Hồ,
nhưng ngó quanh thấy toàn là phe đảng của
Duẫn, không dám căi, ḷng rất căm tức nhưng
đành câm họng chờ cơ hội sau này.
Già Hồ chết rồi, bọn
Duẫn, Thọ không theo di chiếu của Hồ là hỏa
thiêu nhục thể rồi đem tro cốt răi trên ba
miền Bắc, Trung , Nam, lại đem
xác Hồ phơi khô trong lăng Ba Đ́nh để
trả hận .
Âu đó cũng là ác giả ác báo
cuộc đời của một gian hùng. Lưới
trời tuy thưa mà khó lọt.
Năm 1977 Mười giữ
chức Phó Thủ tướng kiêm Trưởng Ban Cải
tạo Công Thương nghiệp là thời gian Mười
ra tay tàn ác khủng khiếp nhất. Mười đề
ra chính sách “đánh tư sản mại bản” và “cải
tạo thương nghiệp” ở miền Nam,
để tha hồ bắt giam, giết người,
cướp của.
Những ai bị Mười lên
danh sách liệt vào hai thành phần đó là bị tù tội,
tán gia bại sản. Mười trả thù “ngụy quân,
ngụy quyền” bằng tù “cải tạo”, đày thân nhân
họ lên vùng “kinh tế mới”, thu vàng bán băi sau
năm 1975. Mười đă thu hết kinh nghiệm máu
lửa của thời làm Bộ Trưởng Nội
thương miền Bắc thời gian 56-57 vào thanh lư
miền Nam.
Con dao thiến lợn năm
xưa giờ trở thành cây “tàn chi quái đao” đầy
uy lực tàn độc, sắc bén vô song, chém người
không vấy máu. Có người sợ đến đỗi
khi nhận được “Giấy mời” của
Mười, đă đứng tim, ngă lăn ra chết ngay.
Rất nhiều người uất ức phải nhảy
lầu hoặc treo cổ tự vận trong thời gian
này. Con số nạn nhân của Mười có cả hàng
chục, hàng trăm ngàn người.
Đến năm 1997 tuy đă
xuống ghế rồi nhưng phe cánh trong triều hăy c̣n
đông nên Mười vẫn c̣n nhiều quyền lực
trong vai tṛ Thái Thượng hoàng Cố vấn của Ban
Chấp hành Trung ương Đảng.
Tuy quyền uy lên tột
đỉnh như vậy, Mười vẫn luôn mang
mặc cảm cái dốt nát và cái nghề hoạn
lợn của ḿnh. Mặc dù lúc sinh thời, già Hồ
thấy cái nghề của Mười ti tiện quá nên cho
chép trong sử của đảng là Mười làm thợ
sơn. Trong những lần sang Bắc kinh chầu Thiên
tử, Mười đều bị bọn Tàu xỏ xiên
đem cái nghề thiến heo ra làm nhục ḿnh. Mười
cay đắng, ngậm bồ ḥn làm ngọt. Nhưng
sự uất ức căm thù cứ ngày càng dồn nén,
Mười thề quyết có ngày sẽ trả mối
hận này. Năm 1975, sau khi cướp được
miền Nam, thống nhất lănh thổ, Mười là
một thành viên trong tập đoàn Lê Duẫn chủ
trương phản Tàu theo Nga.
Thiên địa bất dung gian,
chỉ có 4 năm sau, tập đoàn Bắc Bộ phủ
bị Đặng tiểu B́nh sai Hứa thế Hữu và
Dương đắc Chí mang quân sang “dạy cho quân
hắc tâm vô ơn một bài học” khiến cho hàng
vạn quân dân 6 tỉnh miền biên giới nát thây oan
uổng. Chưa tính đến thiệt hại nhà cửa,
tài sản bị bọn Tàu cướp, phá tan hoang thành b́nh
địa.
Năm 1991, Mười, Kiệt,
Anh đành phải cởi trần vai áo, đầu
đội mũ gai, sang Bắc kinh qú lạy Thiên
tử Giang trạch Dân xin làm chư hầu trở lại
một cách nhục nhă.
Thù riêng chưa trả
được, nhục nước c̣n mang thêm. Mười
nghiến răng thề rằng: “ Thù này, hận này giờ
chưa thể rửa được th́ đến đời
con ta phải trả cho bằng được”.
Tháng 7 năm 1997, Đỗ
Mười và Vơ văn Kiệt sang họp ở Bắc
kinh, lại bị làm nhục lần nữa sử chép:
“Mùa thu năm Đinh Sửu,
Quốc vương Đỗ Mười và Tể
tướng Vơ văn Kiệt sang chầu Thiên tữ Giang
trạch Dân. Cuộc chầu Thánh Thiên tử lần này
rất căng, không khéo lại có bài học nữa th́ thanh
niên Việt Hoa tha hồ mà chết. Trong buổi
họp, Giang là người có học, thâm trầm, mưu
cơ, tính toán rất cẩn thận. Mỗi lời,
mỗi ư rất văn hoa, lại ưa xen vào các câu trong
kinh điển cổ, hoặc những câu thơ, câu
từ. Ngược lại Đỗ Mười lại
dốt đặc cán mai. Lại hay lẫn. Một sự
kiện nói rồi, bàn rồi, lát sau y quay lại. Trong
một bữa ăn, Giang móc ḷ Mười xuất thân là
tên hoạn lợn bằng câu: “Lợn Trung Quốc không to
béo bằng lợn Việt Nam, v́ chúng ham nhảy cái quá. C̣n
lợn VN hầu hết là lợn thái giám nên to lớn”.
Mười biết bị chơi xỏ, căm lắm,
nhưng không làm ǵ được. Thêm nữa, trong lúc hai bên
nâng ly, Giang ứng khẩu đọc hai câu thơ:
Độ tận kiếp ba huynh
đệ tại,
Tương phùng nhất tiếu
mẫn ân cừu.
Thông dịch viên dịch lại
cho Mười nghe như sau: “Sau khi trăi qua cơn sóng gió,
t́nh anh em vẫn c̣n. Hôm nay, gặp lại nhau, cười
một cái, mới hiểu rơ ai là bạn ai là thù”.
Mười không hiểu ư Giang muốn nói ǵ. Khi về khách
điếm, Mười hỏi lại bọn trí thức
đi theo cố vấn. Bọn chúng giảng rơ rằng
Giang có ư đe dọa. Mười gặng hỏi, chúng
giảng:
Cầu thứ nhất: Hăy coi
gương của Lê Đức Anh. Anh bị méo miệng,
một mắt nhắm không được. Bán thân bất
toại. V́ có chữ: Độ là bến đ̣. Tận là
hết. Kiếp tiếng nhà Phật là tai vạ. Huynh là Anh.
Nghĩa là thằng Anh bị tai vạ hết kiếp.
Câu thứ hai: Bây giờ gặp
nhau ở đây, tao cười một tiếng để
chúng mày biết cái tội lấy oán trả ân.
Mười nghe giảng xong
sợ khiếp, nhưng nửa tin, nửa ngờ, hỏi
lại: Lê đức Anh bị đánh thuốc độc
từ bao giờ?Bọn tùy tùng nhắc:
“Cách đây mấy năm, Ngài, Lê đức Anh với Vơ
văn Kiệt sang Quảng Đông họp. Trong dịp
đó Anh được tặng một cái áo. Chính cái áo có
tẩm nước hoa đó đă làm cho Anh bị xuất
huyết năo, thành bán thân bất toại. Mười nhớ
lại, không những Lê đức Anh mà Đào duy Tùng, Lê Mai
đều bị đầu độc cùng một kiểu
như thế cả, sợ quá, mồ hôi toát ra như
tắm. (Theo GS Trần đại Sỹ)
Kể từ đó Mười
giữ ḿnh, tránh họa diệt thân, không dám sang Trung
Quốc nữa. Nhưng mối hận vẫn c̣n chất
chứa trong ḷng.
Mười có hai con, một trai,
một gái. Đứa con trai đầu ḷng khi sinh ra không có
hậu môn. Dân Hà Nội kháo nhau rằng v́ Mười ác quá,
bàn tay vấy đầy máu dân vô tội nên bị báo
ứng để trả nợ. Không đêm nào Mười
ngủ yên giấc. Cứ chợp mắt là mộng
thấy hồn ma kéo cả bầy đứng bên giường
đ̣i mạng. Ác mộng triền miên khiến Mười
phát điên loạn, mất trí nhớ, đă hai lần
phải vào bênh viện tâm thần một thời gian
để điều trị.
Lúc mới sinh thằng con trai,
Mười đặt tên nó là Đỗ Hành. Ǵa Hồ
thấy Mười dốt nát, đặt tên cụt
lủn giống như cha nó là Đỗ Mười, bèn ban
thêm chữ lót là “ngọc” cho cao quí, xứng với ḍng dơi
tướng quân của triều đ́nh. Thành ra Đỗ
ngọc Hành.
Đứa nhỏ Ngọc Hành sinh ra đă
ba ngày mà không ỉa được cứt su nên bụng
chướng lên như cái trống. Thở không
được, mặt mày tím ngắt. Mười muốn
đưa con vào bệnh viện nhờ đốc tờ
Tây giải phẫu nhưng c̣n ngại ngần bèn hỏi ư
kiến Trường Chinh. Chinh vốn chủ trương
theo Tầu, từ năm 1951, trong chức vụ Tổng
Thư kư đảng Lao Động Việt Nam, đă
từng tung ra truyền đơn hô hào nhân dân Việt Nam
hăy “bỏ chữ Quốc ngữ để học
chữ Tàu, bỏ bệnh viện, bỏ nhà bảo sanh và
cách chữa bệnh theo Tây phương để theo
thuốc Tàu…” nên Chinh gạt phắt và nói rằng:
-Y khoa của bọn Tây chỉ cắt,
đục, khoét. Chúng ta hăy gạt ngay cách chữa bệnh
của bọn Đế quốc. Chúng ta hăy dùng thuốc dán
của Tàu danh tiếng khắp cả hoàn cầu để
chữa cho cháu nó. Vă lại cháu nó là máu huyết của quí
tộc, của ḍng dơi vua chúa th́ làm sao để cho bọn
Đế quốc sờ tay vào được.
Mười nghe
lời Chinh, mua thuốc dán hiệu “Con rắn”, công
hiệu như thần, trị bá bệnh, về dán vào
hậu môn cậu quí tử Đỗ ngọc Hành. Sang ngày
thứ năm, đứa bé tắt thở, cả ḿnh
mẩy đều thâm tím v́ bị ứ máu. Nghĩ rằng
Trường Chinh có ư hại cho ḿnh tuyệt giống nên
từ đó Mười thâm thù Chinh đến xương
tủy.
Mấy năm sau, Mười sinh
tiếp đứa thứ hai nhưng lại là con gái.
Mười đặt tên là Đỗ ngọc Bẹc.
Bẹc giống cha, có cái lỗ mũi kỳ lân rất to
và mang tính di truyền học rất dốt không kém
Mười thuở bé, nhưng tính lại thích đua
đ̣i ăn chơi, chưng diện.
Một lần, Mười nhân
tiện công tác, ghé thăm con gái tại trường Trung
học nọ. Lúc vào văn pḥng hỏi cô thư kư gọi
dùm đứa con đang học lớp 9 tên Đỗ
thị Bẹc. Cô thư kư t́m hết danh sách 4 lớp 9 trong
trường vẫn không có tên. Mười nghĩ rằng
ḿnh đă đến nhầm trường. Vừa lúc
ấy, chuông reo giờ ra chơi. Học sinh túa ra sân, Mười
thấy con gái ḿnh liền vẫy gọi vào. Cô thư kư
thấy thế mới bảo:
-Cô ấy tên là Bích, Đỗ
ngọc Bích chứ có phải là Ngọc Bẹc đâu!
Mười kêu lên:
-Ối giời ơi! Con ơi là
con! Thằng bố mày đặt tên cho mày là Bẹc, tên Tây
cho sang đấy con ạ. Bẹc (perle) là ngọc trai
đấy. Tưởng mày căi tên ǵ cho hay ho chứ Ngọc
Bích hơn ǵ Ngọc Trai. Bích hay Bẹc cũng thế thôi.
Năm ở cấp 3, Ngọc
Bẹc không đủ điểm để lên đại
học, Bác Mười chỉ thị cho trường này
phải tăng điểm cho con ḿnh. Vị Hiệu
trưởng trường CNKT1 đă một lần bị
Phó Thủ tướng Mười hăm cho ăn cứt
khi xin di dời trường trở lại Hà Nội
rồi nên hăi quá phải họp Hội đồng giáo viên
lại cùng nhau tăng điểm cho Ngọc Bẹc. Trong
thời chiến tranh, trường này phải sơ tán
về Lạng Giang. Sau 1975, vị Hiệu trưởng
kiến nghị xin cho trường được dời
về nguyên quán, Mười phán:
-Ở Lạng
Giang rộng răi thông thoáng không chịu ở lại đ̣i
về Hà Nội để ăn cứt à?
Hôm ăn khao con ḿnh đỗ tú
tài, quan lớn trong triều đến dự rất
đông, Đỗ Mười chắc lưỡi tiếc
rẽ:
-Cái đám giáo viên trường
CNKT1 cho điểm keo kiệt quá. Chỉ c̣n thiếu có
nửa điểm nữa là con bé nhà tôi đă đậu
hạng “Ưu” rồi chứ có phải cái bằng hạng
“B́nh thứ” này đâu.
(Mấy tuần nay, cô Bẹc Bích
này muốn nổi tiếng tắt nên chơi bạo
bằng cách chọc giận thiên hạ bằng một bài
viết rất ư là “vô văn hóa” bảo
rằng dân Việt là một phần máu mủ của Trung
Quốc, đất nước Việt cũng là của
Trung Quốc. Thiên hạ đă đưa cô ta lên bàn
mổ, đỗ nước sôi, cạo sạch bách
không c̣n một cọng lông. Chuyện rất lư thú có
nhiều t́nh tiết ly kỳ, xin xem truyện “Dập
mật” kỳ tới sẽ rơ.)
Tháng 6 năm 1991, Mười lên
ngôi Quốc vương với chức Tổng bí thư
đảng Cờ đỏ, nắm quyền sinh sát dân
tộc suốt hai nhiệm kỳ.
Tháng 6 năm 1997, Mười
bị Thiên triều Đại Hán truất quyền
để đưa con gà ṇi của ḿnh là Lê Khả Phiêu lên
ngôi Quốc vương và tấn phong cho Mười
chức Thái Thượng hoàng, cùng với Lê Đức Anh
làm Cố vấn cho Ban Chấp hành Trung Ương
đảng Cộng Sản VN.
Tuy ở chức Cố vấn,
bản chất vốn ác và tham quyền cố vị,
Mười vẫn muốn giữ chặt quyền lực
trong tay, quyết đoán hết việc triều chính nên
đến tháng 12 năm 2001, Mười bị Hoàng
đế Đại Hán là Giang Trạch Dân lột áo măo,
đuổi ra khỏi triều, truyền lập tức
phải về quê làm thứ dân.
Mười về quê mang theo
hơn hai mươi xe của cải, châu báu, đô la
đă vơ vét được suốt thời gian cầm
quyền, cầm dao đi “cải cách ruộng đất”,
“cải tảo tư sản”, cải tạo công
thương nghiệp”, bán băi vượt biên thu vàng… xây
dựng dinh thự nguy nga như cung điện vua chúa
để ở.
Bạn đồng liêu là Anh
Chột lúc đưa tiễn chúc mừng rằng:
“Đồng chí đă hạ cánh an toàn”.
Tuy “phục viên”, Mười
vẫn sống sung sướng như một đế
vương xưa nay. Năm 2008, Mười đă 91
tuổi mà vẫn c̣n sung sức và dâm lắm. Hàng ngày dùng
toàn sâm Cao ly và bào ngư vi cá, yến sào. Mỗi tháng
Mười “bồi dưỡng” sức lực bằng hai
lần ăn thai nhi hầm thuốc Bắc. Năm đó,
Mười “hủ hóa” với một nữ hộ lư 45
tuổi và sinh ra được một đứa con.
Nhà thơ Nguyễn Duy Ân có bài
thơ khen như sau:
Đỗ Mười sinh con
mọn
Đỗ Mười sắp
ngủm vẫn c̣n gân
Sánh với dê, heo vượt
bội phần
Hộ lư bốn lăm dù chẳng
trẻ
So già chín mốt cũng tơ tân
Ngày ba, bồi dưỡng bơ
cùng sữa
Tối bảy, tăng
cường rượu với sâm
Chớ nghĩ hoạn
Mười sắp xuống lỗ
Nanh dài, nọc nhọn vẫn mài
đâm.
Có kẻ đọc chuyện “Ác
nhân dị sử” này xong, thở dài, cảm thán rằng:
-Cả một Bộ Chính trị
Trung Ương đảng cộng sản Việt Nam
gồm toàn những tên ngu dốt cầm quyền cai
trị, lại thêm hai tên Cố vấn,
một tên hoạn lợn, một tên phu cạo mủ cao su
lại càng ngu dốt tệ hại hơn nữa th́
đất nước tất đi đến chỗ
diệt vong, mất nước vào tay ngoại bang là
điều hiển nhiên trước mắt, không phải
ở đâu xa.
Nguyễn Thanh Ty
5/02/10