Nguyễn Thanh TyPhép trị nước
từ thưở thanh bình, vua Nghiêu, vua
Thuấn dùng âm nhạc để dạy dân. Đời sống nhân dân rất an bình, hiền hòa, ai nấy
đều chăm lo cầy cấy, luôn hạnh phúc
trong câu ca tiếng hát.
Đó là thuật
chăn dân bằng nhạc gọi là Nhạc
trị của bậc Đế. Gọi là Đế
đạo.
Đến đời vua Vũ, vua
Thang nhân tính có phần biến đổi, chán
nghe âm nhạc, mãi mê săn bắn, thích
giết thú lấy thịt để ăn hơn
là chăm việc ruộng đồng. Tính
tình trở nên hung hăng. Xã hội có
phần rối loạn. Để thuần hóa lại
nhân tính, hai vị vua này đặt ra Lễ, Nghi
để dạy dân biết ôn nhu, kính trên
nhường dưới, trên thuận
dưới hòa, vãn hồi trật tự
xã hội.
Đó là thuật
vỗ về, chăn dân bằng Lễ gọi là
Lễ trị của bậc Vương. Gọi là Vương
đạo.
Đến thời nhà Chu,
khoảng 390 TCN (trước Công Nguyên) thiên hạ
đại loạn. Nước Tàu chia ra thành
mười mấy nước nước
lớn, nhỏ đua nhau tranh hùng, xưng bá,
chém giết nhau liên miên, bất tận để
cướp đất đai, của cải lẫn
nhau. Ai mạnh thì được. Ai
yếu thì bị diệt vong. Đế
đạo, vương đạo không còn hiệu
lực để vỗ yên trăm họ
được nữa.
Lúc ấy, có một
người nước Vệ, tài cao, túc
trí đa mưu, tên là Công tôn Ưởng, sau
đổi thành Vệ Ưởng, đề
xuất ra một học thuật mới gọi là
Bá đạo, giúp vua Tần Hiếu công, chấn
hưng đất nước, lập nên nghiệp
bá.
Thoạt đầu Tần
Hiếu công không hiểu Bá thuật là gì. Ưởng giải thích:
-Bá thuật khác với
Đế thuật và Vương thuật. Đế
thuật, Vương thuật thì cốt thuận dân
tình. Bá thuật tất phải
trái dân tình mới được.
Tần Hiếu công lấy làm
lạ, biến sắc mặt hỏi:
-Bá thuật cứ phải
trái với dân tình mới
được sao?
Ưởng nói:
-Đàn cầm,
đàn sắt nghe không êm ái thì phải thay
dây, gióng lại. Chính trị cũng thế. Không chỉnh, đổi lại, không
được. Ngày xưa Quản Trọng
giúp Tề Hoàn công đặt ra phép nội
chính và phép quân lệnh, chia nước
Tề thành 25 hướng, đổi hết
pháp luật nước Tề, đâu có
phải bọn tiểu dân vui lòng mà theo! Đến khi nước cường
thịnh, thì dân mới biết Quản Trọng
là bậc kỳ tài trong thiên hạ. (Bá thuật rất ép phê, mạnh và
mau. Giống như công an bây
giờ, sáng ra đứng đường
thâu tiền mãi lộ. Chiều về rượu
thịt ê hề, gái gú tươi mát phủ
phê)
Tần Hiếu công nghe ra,
mừng lắm, bèn phong ngay cho Vệ
Ưởng chức thừa tướng,
được toàn quyền định đoạt.
Ai trái lệnh sẽ bị xử.
Vệ Ưởng
liền soạn thảo “Pháp lệnh thất
điều”. (Sử
gọi đó là Biến pháp của Vệ
Ưởng) Vệ Ưởng chưa dám tuyên
bố vì sợ dân chúng không theo,
bèn nghĩ ra một cách:
Ông cho dựng ở cửa
Đông một cây cột mà ai cũng đủ
sức vác, rồi cho lính rao:
-Ai mang cây cột này sang
đặt ở cửa Bắc sẽ
được thưởng 10 lạng vàng.
Mọi người đều nghi
ngờ, vì nghĩ mình vác nó dễ
dàng, chỉ sợ quan trên đánh lừa,
nên không ai dám vác. Vệ Ưởng thấy
vậy bèn tăng thưởng lên 50 lạng
vàng. Có một kẻ nghèo liều mạng
đến vác cây cột ra cửa Bắc.
Người bu theo coi rất đông.
Lập tức Vệ Ưởng
thưởng 50 lạng vàng mà không có
điều kiện gì. Ai nấy đều khen:
-Quan trên biết giữ lời!
Hôm sau, Vệ
Ưởng lập tức tuyên bố “Biến
pháp thất điều”. Bảy điều rất khắc nghiệt,
cả Thái tử cũng phàn nàn:
-Thật là rắc rối cho
thứ pháp luật này!
Hàng ngàn người tỏ
ý tán đồng theo Thái tử đều
bị trị tội. Vì Thái tử sau này
nối ngôi nên không thể bắt tội. Thầy
dậy học Thái tử là hai vị hoàng
thân đều phải bị thích chữ vào
mặt để trị tội thay. Ai nấy
đều sợ hãi, tuân hành răm
rắp.
Trong “Biến pháp
thất điều”, điều thứ 7 là
khắc nghiệt hơn cả.
Điều thứ 7- Cấm gian:
Cứ năm nhà là một bảo, có
bảo trưởng coi ngó. Mười nhà
là một liên, có liên trưởng quán
xuyến. Nếu một nhà có lỗi, chỉ
cần một trong chín nhà không tố thì
cả mười nhà đều bị chém. Ai
tố cáo được một chuyện gian coi
như chém được một đầu
giặc.Chứa người có tội
hoặc không có giấy tờ thì gia sản
bị tịch biên hoặc tùy theo nặng
nhẹ mà xử phạt.
Pháp lệnh thi hành trong 10
năm, dân Tần sống có nề nếp trật
tự, ngoài đường không ai nhặt
của rơi, trong xóm không có người gây
gỗ, ẩu đã, trong núi không có trộm
cướp. Nước Tần trở nên
hùng mạnh. Các nước xung
quanh đều tự đến xin thần phục.
Triệu Lương là người
cùng thời với Vệ Ưởng,
từng đến gặp và khuyên
Ưởng nên từ quan bỏ đất
(Ưởng được phong 15 ấp ở
đất U, đất Thương, phong hiệu là
Thương Quân nên gọi là Thương
Ưởng) mới giữ nỗi mạng do
pháp chế của ông quá nặng, lại
có quá nhiều người oán ông. Ưởng không nghe vẫn làm quan.
Sau khi Tần Hiếu công mất, Thái tử lên ngôi,
tức Tần Huệ vương, lập tức ra
lệnh bắt Ưởng, vu cho tội phản
nghịch. Ưởng bỏ trốn nhưng không
có giấy “Hộ khẩu” nên không ai dám
chứa. Ưởng bị bắt và bị
hành hình phân thây giữa chợ bởi
năm con trâu. Trăm họ xúm lại tranh nhau ăn thịt, chỉ một lúc là
hết.
Pháp lệnh và hình phạt
này do Ưởng đặt ra và bây
giờ Ưởng rước lấy. Gieo nhân
gặt quả.
Đến đời Tần
Thủy Hoàng, 259 TCN- 210 TCN, vị vua đầu tiên
tóm thâu sáu nước chư hầu, thống
nhất nước Tàu rộng lớn,
đặt nền cai trị chính sách rất
hà khắc, tàn bạo.
Chính sách này do thừa
tướng Lý Tư đặt ra.
Năm 213 TCN, theo đề nghị
của Lư Tư, Thủy Hoàng ra lệnh đốt sách và
chôn nho: đốt hết các bản Tứ thư, Ngũ
kinh và bách gia chư tử trong dân gian, chỉ giữ lại
một bản tàng trữ trong thư viện của
triều đ́nh. Các bộ sử của lục quốc
cũng phải đốt hêt, chỉ được
giữ những sách về kỹ thuật, như sách
thuốc, sách trồng trọt, sách bói… Kẻ
nào không tuân lệnh mà lén lút giữ th́ bị kết tội
là phản quốc. Có người phải giấu sách
vào trong tư tưởng, có người lại ráng
học thuộc ḷng thư và kinh
để truyền miệng lại đời sau. Số nhà nho bị chôn sống ở Hàm
Dương là 460 người. Sau mỗi ngày một
đông, đều bị đày ra ngoài biển.Các
trường tư bị dẹp hết. Dân
muốn học th́ phải học các quan (bác sĩ) của
triều đ́nh, mà chỉ được dạy cho
mỗi môn là pháp luật của quốc gia. (Wikipedia)
(Sau tháng 4 năm 1975, Cộng sản
Bắc Việt Nam cưỡng chiếm miền
Tần Thủy Hoàng theo
Pháp gia nên khuyến khích binh, nông, ghét công, thương. Muốn nắm hết mối lợi thương
nghiệp, triều đ́nh đày hết phú thương có
những xưởng sản xuất sắt lại
miền Thiểm Tây và miền Tứ Xuyên. Hai trăm
ngàn gia đ́nh phú thương, tiểu thương bị
đày tại xứ Thục và miền An Dương (phía
nam Lạc Dương ngày nay), hẳn là
để làm ruộng.
Nông dân được
ưu đăi. Đất không c̣n là sở hữu của nhà vua
nữa, mà của người làm ruộng. Người chủ ruộng có quyển bán
ruộng và ai cũng có quyền mua. Chế độ
đó gọi là danh điền, tạo nên một giới
địa chủ có những cơ sở rất lớn,
dần dần thành một giai cấp có quyền hành
tương tự như các chư
hầu nhỏ thời trước.
(Cộng sản Việt Nam rập khuôn
chính sách của Tần, nhưng tham và ác
hơn Tần. Đảng diệt trừ công,
thương xong, cướp luôn ruộng đất của
nông dân mà ban đầu phỉnh gạt họ
đứng lên “cướp chính quyền”
nói là để lấy lại đất ruộng
của địa chủ, phân chia cho nông dân. Nhưng khi
cướp được rồi thì
Đảng một tay thâu tóm
quản lý)
Bạo chúa Tần Thủy Hoàng
cũng chỉ ngồi được trên ngài
vàng gần 40 năm rồi mất. Nước
Tần lại bị suy vi. Bia đời sử sách chỉ
còn ghi lại tiếng xấu:
“Tần Thủy Hoàng là
một bạo chúa.
Trong gần 40 năm ngồi trên ngai vàng, ông có nhiều hành
động được cho là tội ác, đó là: Xây
Vạn Lư Trường Thành, xây cung Lương Sơn , xây
cung A Phòng, đốt sách, chôn học tṛ và xây lăng
mộ cho riêng ḿnh”.
Đến giữa thế kỷ
thứ 19, năm 1848, có một du thuyết
ở Vương quốc Phổ, thuộc Tây
phương, tên Các Mác, là một lão râu
xồm, trán hói, mắt cú, mũi diều
hâu, nhiều tham vọng, xướng lên một học
thuyết mới gọi là “Trường
phái Mác Xít”. Phái này
lấy “Đấu tranh giai cấp” để chống
lại triều đình mà ông ta gọi là
“chế độ tư bản” bóc lột giới
công, nông. Mác hô hào lập ra “giai
cấp vô sản công nghiệp”, làm sức mạnh
để đi cướp chính quyền.
Các Mác là một du thuyết
“bàng môn tả đạo”, giỏi dùng thuật
ngữ xảo ngôn để lừa bịp
giới công, nông ít học. Những lời
lẽ trong bản “Tuyên ngôn Đảng Cộng sản”
của ông ta cho rằng: “Lịch sử của
tất cả các xã hội từ
trước tới nay là lịch sử
của “đấu tranh giai cấp” là một
thứ xảo biện. Thật ra nó chỉ là
“lợi dụng, tập hợp đám dân
nghèo lại để đi cướp chính
quyền”.
Mác còn chủ trương tam vô:
vô thần, vô gia đình, vô tổ quốc. Mác
gọi là thế giới đại đồng.
Của cải tập trung vào tay
một nhóm người, gọi là cộng
sản.
Tư tưởng
của Mác là chủ nghĩa duy vật biện
chứng. Mác cho
rằng, con người có thể quyết
định vật chất qua việc sản xuất
và con người cũng chỉ là một
cổ máy sản xuất ra vật chất.
Cuối tháng 11/1842, Mác
gặp Ph. Ăng Ghen người nước
Đức, đang trên đường sang Anh,
cũng là một du thuyết loại “bàng môn
tả đạo”, có nhiều ý tưởng
kỳ quái, lạ đời như Mác. Hai
người trở nên bạn cùng chung lý
tưởng và quan điểm trong tất cả
mọi vấn đề lý luận và thực
tiễn.
Mác bị Chính phủ Pháp
trục xuất theo lời yêu
cầu của Vương quốc Phổ, phải sang
sống ở Bỉ. Năm 1848, cách mạng
Pháp nổ ra, Chính phủ Bỉ lại trục
xuất Mác. Mác cùng Ăng Ghen về Phổ
thành lập tờ Nhật báo tỉnh Ranh
để tiếp tục kêu gọi giới công, nông
nổi loạn. Năm 1849, Chính phủ Phổ
đóng cửa tờ báo và trục
xuất Các Mác. Mác phải đi Luân Đôn
sống ở đó đến cuối đời.
Mác qua đời ngày 14 tháng Ba năm 1833.
Suốt đời Mác bị
các nước xua đuổi, phải sống thang
lang từ nước này sang
nước khác, không thi thố được
học thuyết của mình.
Chủ nghĩa Mác-Lê
lại được Lênin ở Nga vận dụng
tạo ra cuộc cách mạng giải phóng lớp công nhân
thợ thuyền bị bóc lột và các dân tộc nhược
tiểu bị áp bức. Lênin tổ chức Đảng Cộng sản
Liên xô, tập hợp hầu hết giới
thợ thuyền để thành lực
lượng liều mạng đi cướp
chính quyền.
Cung điện Mùa Đông
Kremllin bị tấn công đêm 24 rạng 25 tháng 10. Lénin chiến thắng vào ngày 07 tháng
11, tuyên bố lập trật tự xă hội bằng
sự tàn sát cũng như đày ải những ai
không theo chủ nghĩa cộng sản.
Vô thần và duy vật bắt đầu gieo rắc đau
khổ cho nhân loại kể từ ngày 07-1-1917.
Lênin là người có ḍng
máu lai từ thời tổ tiên. Là người Nga nhưng ông ta có ḍng máu của
người Kalmyk qua ông nội, của người
Đức Volga qua bà ngoại và của người Do Thái
qua ông ngoại nên bản tính rất hung ác,
giết người không ghê tay hay chớp
mắt. Hồ Chí Minh rất tương
đồng với Lênin chính ở điểm
này nên lúc sinh thời, suy tôn Lênin như một
ông thánh và cho lập tượng thờ
ở Hà Nội. Nhưng người dân Hà
Nội không biết Lênin là ai, mới có câu
vè:
Lênin ông ở nước Nga,
Cớ sao ông
đến vườn hoa nước này?
Ông ngửng mặt, ông chỉ tay,
Chủ nghĩa xã hội
nước này còn lâu!
Lênin mất vào tháng
1 năm 1924.
Giới thân cận Lênin
nói ông đă phải chịu đựng ba cơn
đột quỵ liên tục để cuối cùng dẫn
đến cái chết của ông. Nhưng chứng cứ mới
được phát hiện cho thấy Lênin qua đời v́
đã tửu sắc, dâm dục quá
độ, chết vì căn bệnh lây truyền qua
đường t́nh dục: giang mai…
Sau khi Lênin chết, Xít
Ta Lin lên nắm quyền bính. Bản tính Xít Ta Lin còn hung
tợn hơn cả Lênin, người dân Nga lúc
bấy giờ xem y như là một con quĩ
dữ, chuyên ăn uống máu
người.
Trong những năm sau
đó, hàng triệu người đă chết trong các
cuộc thanh trừng tập thể và hàng triệu
người khác đă chết v́ đói và trong chiến
dịch tập thể hóa nông nghiệp. Những cuộc bắt
bớ tùy tiện và vụ di dân cưỡng bách các nhóm dân
thiểu số đi đến những vùng xa xôi của
Liên Bang Xô Viết làm xáo trộn đến tận gốc
đời sống của nhiều người.
Thời kỳ Xít Ta Lin cai trị
Liên Xô là một xă hội bưng bít, một xă hội
thiên đường hoang tưởng, bắt đầu
từ việc thần thánh hoá một cá nhân, thần bí hoá
và không có cá tính hoá một cá nhân. Đó là tệ sùng bái cá
nhân. Nếu ai đó bị ông ta coi là kẻ
thù th́ không thể thoát chết được.
Nạn nhân của tệ sùng bái cá nhân là những
tướng lĩnh công huân, những vị lănh đạo
lăo thành, các chính trị – kinh tế gia tài giỏi. Cơ quan
đàn áp của Xít Ta Lin ngụy tạo những
chứng cớ về tội danh “Kẻ thù của nhân dân”,
“tập đoàn phản cách mạng hoạt động
chống Liên Xô” để tiến hành những cuộc tàn
sát, thanh trừng bất chấp đạo lư phi nhân tính.
Hồ Chí Minh rất sùng bái
Xít Ta Lin, muốn mình cũng sẽ
được sùng bái như thế nên
thẳng tay đàn áp phe Xét lại và
phong trào Nhân văn Giai phẩm. Nhiều ngàn
người đã bị chết hoặc tù
đày trong thời gian này. Hồ tự
mình viết sách ca ngợi, thần thánh
hóa cá nhân mình, nhưng che dấu
dưới cái tên già là Trần Dân Tiên
và T. Lan. Hồ còn ra lệnh cho văn nô Tố
Hữu (Bôn Lành) làm thơ ca tụng, nịnh
bợ hắn ta lên tận mây xanh:
Xít Ta Lin! Xít Ta Lin!
Yêu biết mấy nghe con tập nói
Tiếng đầu lòng con gọi
Xít Ta Lin!
…
Thương cha, thương mẹ,
thương chồng,
Thương mình thương
một, thương Ông thương mười…
Ngược lại,
người dân Nga rất ghê tởm và oán
hận, căm ghét Xít Ta Lin đến tận
xương tủy.
Ngày Xít Ta Lin
vừa bị hạ bệ, nhân dân Nga reo mừng
kéo nhau ra đường đập tan nát
hết các tượng của Xít Ta Lin
để trả thù, rửa hận.
Tổng thống Nga Dmitry Medvedev đă
lớn tiếng chỉ trích những ai có ư định
phục hồi vị thế của cựu lănh tụ Xô
viết Xít Ta Lin. Hàng triệu người dân Liên xô
cũ chết dưới thời Xít Ta Lin và ông Medvedev
khẳng định không có lời giải thích thỏa
đáng cho hành động của những người lănh
đăo huỷ diệt chính nhân dân ḿnh…Ông Medvedev nói ông không
thể tưởng tượng nổi quy mô đàn áp
dưới thời Xít Ta Lin khi nhiều nhóm
người bị tàn sát và thậm chí mất cả
quyền được chôn cất.
Riêng ở Liên Sô: “Cách đây
đúng 70 năm, trong giai đoạn 1937-1938, chế
độ độc tài của nhà độc tài sắt máu
Xít Ta Lin, mở đầu hàng loạt vụ bắt
bớ, thủ tiêu và thanh trừng chính trị. Từ tháng
8-1937 đến tháng 10-1938, chỉ riêng trong nhà tù tại
Uỷ ban An ninh quốc gia, chế độ Stalin đă
bắn bỏ 20.760 người, trong đó có khoảng 1.000
người lănh đạo tôn giáo. Giáo chủ
giáo phận St.Petersburg Serafincũng bị giết vào
thời gian này…Hơn 700 ngàn người bị giết.
Theo Alexandr Solzhenitsyn, nhà văn đoạt giải
thưởng văn học, có khoảng 60 triệu
người đă bị chết trong chế độ Xô
viết trong giai đoạn từ 1917 đến 1956…”(BBC
online ngày 12-08-2007 )
Tại Trung Hoa, Mao Trạch Đông
cũng áp dụng chủ thuyết Mác Lê
để cướp chính quyền của
Chính phủ Tưởng Giới Thạch,
mở ra một giai đoạn lịch sử
tàn ác, ghê tởm nhất, máu
người dân Trung Hoa đã chảy thành sông.
“Đặc biệt là cuộc Cách
mạng Văn hóa đă làm đổ máu hàng 10 triệu
người mà tiêu biểu nhất là ông Lưu thiếu
Kỳ, ông Bành đức Hoài, nguyên soái Hạ Long đă
bị đối xử một cách tàn khốc, bị
đọa đày, bị bắt phải quỳ xuống,
bị đánh đá hộc máu. Gọi Cách mạng Văn
hóa mà không có một tí ǵ văn hóa cả…”(RFA online ngày 14-02-2008)
Trong phong trào Đại Nhảy Vọt
năm 1958, ước tính 30 triệu người đă
chết đói…
Mao Trạch Đông sinh
năm 1893 chết năm1976. Mao nắm giữ chức
Chủ tịch Đảng cộng sản Trung Quốc
nhiệm kỳ từ 1943 đến tháng 9/ 1976.
Thành tích giết
người lớn nhất của Mao là
“Bước nhảy vọt Văn hóa”:
“Bước nhảy vọt của
họ Mao đem đến nạn đói bi thảm
nhất trong lịch sử Trung hoa với con số lên
đến bốn mươi ba triệu người
chết. Cuộc Cánh mạng Văn hóa th́ đẩy
đất nước vào t́nh trạng hổn loạn, tiêu
huỷ đời sống người dân, phá hại gia
đ́nh, làm vỡ tan t́nh bằng hữu và toàn bộ cơ
cấu xă hội Trung hoa…”
Bên cạnh việc làm ác,
đời sống của Mao cũng sa
đọa, tê hại, hơn cả Xít ta Lin và
Lênin.
“Con số các cô gái trẻ đẹp
hầu hạ cho họ Mao tăng lên nhiều hơn
trước, khắp mọi nơi…Chung quanh ông lúc nào
cũng có một bầy con gái. Lúc Cách mạng Văn hóa trở
thành cao trào th́ họ Mao nằm trên giường với ba,
bốn hoặc năm cô cùng một lúc…” (Trích “Bí mật cuộc đời Mao
trạch Đông” do Bs Lư Chí Tuy viết và Ngọc Dung
dịch)
Còn ở xứ Việt Nam
khốn khổ, khốn nạn của chúng ta thì
Hồ Chí Minh ôm mớ tà thuyết Mác
xít từ Liên xô về nước đã
áp dụng ra sao sau khi xua nông dân làm bia
đỡ đạn để cướp chính
quyền của Hoàng đế Bảo Đại
vào mùa Thu tháng Tám năm 1945?
Chiêu thức đại ác
đầu tiên Hồ ra tay là “Cải cách ruộng
đất 1953-1956” :
Ḥa thượng Thích Quảng Độ,
trong cuốn“ Nhận định về những sai lầm
tai hại của đảng CSVN đối với dân
tộc và Phật giáo Việt nam”, đoạn viết
về cuộc tàn sát những người dân vô tội
của cộng sản trong chiến dịch cải cách
ruộng đất, ông viết:“…cuộc đấu
tranh căm thù giai cấp diễn ra suốt sáu tháng trời
trên toàn miền Bắc chết chóc quá nhiều,
đến 700 ngàn người (trong đó có nhiều
trường hợp, như một cán bộ đă nói
với tôi nguyên văn như sau: “cộng sản chặt
đầu cộng sản mới đau chứ.” Ông Bùi
Tín một người bất đồng quan điểm
với chính phủ CSVN cũng nêu lên con số nạn nhân là
500 ngàn người do Michel Tauriac, nhà văn, nhà báo
đưa ra. Bùi Tín cũng cho rằng con số này hợp
lư nếu kể cả người bị giết, bị
chết trong tù, bị chết sau khi thả ra và tự
tử.
Vụ đại ác lớn
thứ nhì là: Thảm sát Tết Mậu Thân ở Huế:
Trích bài “Huế, 40 năm sau Tết
Mậu thân…” của Pv Thiện Giao đài RFA:
“Học gỉả Douglas Pike, thuộc
Pḥng Thông tin Hoa kỳ, trong bản báo cáo hoàn tất vào ngày
01 tháng 02 năm 1970 tại Sài g̣n, đă viết: chỉ
trong Mậu thân tại Huế, gần 4.800 thường dân
đă chết và mất tích. Ông Pike kết thức lời
mở đầu của báo cáo bằng một câu khẳng
định:“Nếu báo cáo của tôi là
một bản án đối với thái độ của
người cộng sản, th́ thật sự nó là như
vậy đấy. Đơn giản v́ thái
độ ấy đáng bị lên án.” (RFA online ngày
4-2-2008)
Theo giáo sư Nguyễn Lư Tưởng,
người tham dự cuộc t́m kiếm xác các nạn nhân
bị cộng sản sát hại trong Tết Mậu Thân
tại Huế trong bài “ Huế, 25 ngày kinh hoàng của 40
năm trước” của phóng viên Thiện Giao đài RFA
viết lại th́:
“ Tại thành phố Huế và tỉnh Thừa
Thiên, 22 địa điểm t́m được là các
mồ chôn tập thể Trong 22 địa điểm này,
người ta đếm được2.326 sọ
người. Sau tết, chúng tôi lập
Hội Gia đ́nh Nạn nhân Cộng sản trong Tết
Mậu Thân. Các gia đ́nh kê khai có người
chết, có người mất tích, lên đến 4.000 gia
đ́nh. Người ta ước tính vào khoảng 6.000
người, có nhà báo ước tính 5.000.Chúng tôi cho con
số 5 đến 6 ngàn là không sai lệch lắm đâu.” (RFA online ngày 31-01-2008)
Chủ thuyết Mác Xít-Lênin
chỉ tồn tại có 70 năm rồi sụp
đổ, diệt vong theo các triều đại
bạo chúa Tần Thủy Hoàng và Vệ
Ưởng ngay tại cái nôi cộng sản
của mình, kéo ngã theo cả khối Đông Âu
nằm dưới quyền kiểm soát của
Liên sô: Bungary, Ba Lan, Cộng hòa Séc, Slovakia, Hungary,
Romania, Belarus, Ukraina, Moldova… Chấm dứt một giai
đoạn khủng khiếp của nạn diệt
chủng do tà thuyết cộng sản gây ra cho một
nữa nhân loại.
Tuy vậy hiện nay, chủ nghĩa
cộng sản vẫn còn lạc lõng bốn
nhà nước ngoan cố duy trì cái ác,
phản lại nhân loại, quyết bịt mắt
bưng tai trước sự phát triễn
văn minh, tiến bộ của nhân loại
.
Đó là bốn
nước gồm Trung Quốc, Bắc Hàn,
Các nước theo chủ
nghĩa cộng sản đều theo một chính
sách như nhau là dùng và xúi dục
giới công, nông dân nổi loạn, đứng lên
“làm cách mạng”, nghĩa là làm bia
đỡ đạn cho bọn cán bộ CS núp
bên trong hoặc đi phía sau, bí mật chỉ
huy, xách động đi cướp chính
quyền. Khi đã thành công, thì bọn này
quay mặt lại với nhân dân, cai trị nhân dân
bằng một chính sách tàn ác hơn
nhiều lần so với thời phong kiến,
thực dân, đế quốc.
Bởi do bản chất bá
đạo đi ăn cướp mà có, không
thuận lòng dân, nên dù nắm toàn quyền
cai trị trong tay, đám lãnh tụ CS vẫn luôn
luôn nơm nớp lo sợ không biết lúc
nào bị nhân dân lật đổ. Và để
bảo vệ chế độ ăn cướp
bất nhân này Nhà nước cộng sản
nào cũng đều phải dùng lực
lượng công an, một công cụ chuyên chính
sắt máu, vô nhân tính để duy trì
quyền lực và địa vị.
Rút tỉa kinh nghiệm sụp
đổ của Liên sô và khối Đông Âu,
Đảng Cộng sản Việt Nam thành lập
một chế độ “công an trị” để tạo
nên một thành trì sắt thép vững
chắc bảo vệ cho mình.
Chế độ “Công an trị” còn
“khủng” hơn “Pháp lệnh thất điều” của
Vệ Ưởng khi xưa.
Những nhà dân chủ trong
nước lên tiếng đòi nhân quyền,
tự do tôn giáo, tự do tư tưởng
cho nhân dân đều bị chúng quản thúc
tại gia, bao vây kinh tế, khủng bố tinh thần,
dàn dựng tai nạn giao thông, bắt cóc,
đánh đập dã man… Và
cuối cùng thì ngụy tạo chứng
cớ vô lý để xử tù.
Một nửa ngân sách Nhà
nước được Đảng CS dùng
để nuôi bộ máy “công an trị” khổng lồ
này gồm 1 triệu công an chìm, nổi đủ
loại và hơn nửa triệu bọn
đầu gấu, xì ke ma túy để hỗ
trợ chúng trong các vụ đàn áp dân
chúng, mà chúng gọi hoa mỹ là thành
phần “nhân dân tự phát”.
Lực lượng công an đa
số đều được tuyển chọn trong
đám lưu manh côn đồ, trộm cắp,
thất học nhưng rất trung thành với
cấp trên theo tiêu chuẩn “hồng
hơn chuyên”.
Chúng được huấn
luyện theo cách dạy Quân
khuyển, tuyệt đối tuân theo lệnh chủ
mà thi hành, không cần biết đúng sai.
Bộ Công An Cộng sản Việt Nam
do đại tướng Lê Hồng Anh nắm,
là cơ quan quyền lực nhất của chế
độ, nó được Đảng giao
phó thực hiện chức năng quản
lý về an ninh trật tự, phản gián,
điều tra tội phạm, thi hành án, tạm
giữ, tạm giam, bảo vệ dân…
Bộ Công an quản
lý Lực lượng Công an Nhân dân.
Trên thực tế, khẩu hiệu
“Công an là bạn của dân” lại
là kẻ đàn áp nhân dân tàn bạo
nhất thay vì bảo vệ dân, nên mỗi khi thấy
công an: “ở xa thì sợ, đến gần
thì run”.
Chế độ càng thối
nát, tham nhũng lại càng ra sức o bế
lực lượng công an
để lực lượng này phải trung
thành tuyệt đối với mình. Vì
vậy, công an trở nên “kiêu binh”, ngày càng
“loạn”, làm nhiều điều càn rỡ
tàn ác, bất chấp luật pháp luật
mà mình có bỗn phận phải gìn
giữ, bảo vệ.
Người dân bị
áp chế, ngược đãi vô cớ
ngày càng nhiều, chỉ biết uất hận cam
chịu mà không biết phải thưa gởi kêu
cứu với ai.
Xin đơn cử vài
trường hợp điển hình:
1/ Công an đánh
người chỉ vì sợi râu đẹp.
Theo báo Pháp Luật, ngày
9/907, Nguyễn văn Long ngụ tại xã An Lư,
huyện Thủy Nguyên bị một số CA đánh
trọng thương tại trụ sở CA huyện
chỉ vì anh Long có sợi râu đẹp. Hai
công an tên Cường và Hải thấy Long có
sợi râu dưới cằm. Cường
nói: “Thằng này có cái râu cong dài
thế này là gấu lắm đây!” Hải
bảo:”Để tao nhổ cái nào!”.
Long không đồng ý, lấy tay che
lại, nên bị Hải đạp vào bụng. Long đấm lại làm Hải rơi
kính. Lập tức có 4 CA xông vào
đánh Long. Sauk hi đánh ở phòng
ngoài, Hải còn gọi những CA khác lôi
Long vào phòng ngủ của các điều tra
viên đánh tiếp. Gần một tiếng
đồng hồ sau, Long mới được
đưa ra ngoài. Gia đình phải đưa Long
vào bệnh viện cấp cứu.
(Không thấy báo Pháp Luật
nói đám CA huyện Thủy Nguyên sau đó
có bị xử lý ra sao)
2/ Công an đánh tài xế xe Bộ trưởng
Theo VietNamNet: Sự việc một
sĩ quan CA thành phố Hà Nội đánh
lái xe của Bộ trưởng Chủ nhiệm
Văn phòng Chính phủ đã làm bạn
đọc VietNamNet dây lên làn sóng bất bình
về sư xuống cấp đạo đức
của những người “vì dân phục
vụ”.
Báo viết:
Hành vi này của
người sĩ quan công an đă được Bộ
trưởng Nguyễn Xuân Phúc xác nhận tại buổi
họp báo chiều 1/2, sau phiên họp thường kỳ
Chính phủ.
Ông Phúc cho hay, một buổi sáng cách
đây hơn 10 ngày, trên đường đi làm, xe của
ông (biển số xanh) đă bị một xe biển
số tư nhân đi phía sau đâm vào làm hư hỏng
nhẹ. Đây là hành vi vi phạm pháp
luật.
Không dừng lại ở đó, khi
bước xuống xe, chủ nhân
chiếc xe vi phạm (là một sĩ quan công an Hà Nội)
đă bạt tai tài xế lái xe cho ông Phúc.
Ông Phúc nói: Đây là hành vi
vi phạm nghiêm trọng tư cách đạo đức
người chiến sĩ công an nhân dân cần bị
xử lư nghiêm túc. Trách nhiệm xử lư thuộc về Giám
đốc Công an TP Hà Nội, nơi
quản lư cán bộ.
3/ Nghi can công an
đánh chết người tàn bạo.
(15/3/2010)
Theo lời kể của ông Bình,
cha của nạn nhân với VnExpress.net, chiều
10/11/09, có hai người đàn ông tự
giới thiệu là công an quận Hà Đông
đến nhà, nói nhờ Hùng chút
việc. Họ không xuất trình giấy tờ
chứng minh là cán bộ đang làm
nhiệm vụ, nhưng con trai ông vẫn tin
tưởng đi theo.
Tối hôm ấy con trai ông không về.
Một tuần sau, gia đình ông nhận
được giấy thông báo từ Công an Hà Đông rằng Hùng
đã chết. Ông đau đớn kinh hoàng khi
trông thấy xác con. “Toàn bộ phận than thể
khô đét lại. 10 đầu ngón tay, chân bầm
tím… Từ 1/3 đùi trở
xuống đến bàn chân phù nề và thâm
tím”. Với kinh nghiệm lâu năm làm
việc liên quan với ngành y, ông Bình nhận
định với VnExpress: “Cái chết của con
trai ông không phải là cái chết tự nhiên”.
Ông Bình cho rằng: “Phải chăng cháu bị
đánh đập, hành hạ bằng cách
không cho ăn uống, hay dùng xung
điện?”
Công an Hà Đông
vẫn im lặng không trả lời câu hỏi
của gia đình ông Bình vì sao cháu bị
bắt? Vì sao bị chết?
Đã 5 tháng trôi qua, nghi án
công an đánh chết
người một cách tàn bạo vẫn
chìm trong im lặng.
4/ Hai vụ xãy ra cách nhau hai
tháng, hai người tử vong tại cơ
quan công an quận Hai Bà Trưng
và quận Hà Đông.
Tháng 11/09, nạn nhân là
Nguyễn Mạnh Hùng bị tạm giam vì nghi
là trộm cắp. Sau một hôm tạm giữ,
anh Hùng được mang đi cấp cứu
nhưng đã ngừng thở.
Ngày 21/1/2010, nạn nhân là
Nguyễn quốc Bảo bị công an Hai Bà Trưng
tạm giữ hành chính vì mang trong
người một dao, một kéo. Rạng
sáng, 22/1/2010, anh Bảo được đưa
đi cấp cứu nhưng đã tử vong
vì bị chấn thương sọ não.
Công an Hà Nội
và Hà Đông có biên bản kết luận hai
người vì sơ ý bị ngã nên bị
vỡ nền sọ và chấn động não.
Cũng giống như những
vụ Thái Hà, Tòa Khâm Sứ, Giáo
xứ Đồng Chiêm, núi Chẽ, Cồn Dầu…
công an đã kéo đến đông hàng ngàn
với vũ khí trang bị tận răng
để “ bảo vệ dân nhưng nhân dân bị
kích động bởi các phần tử
quá khích và các thành phần phản
động muốn lật đổ chính quyền,
ngăn cản nhân viên thừa hành công vụ,
có hành động điên cuồng đâm
đầu vào khiên và dùi cui, roi điện
của công an nên bị thương chảy máu chứ
công an không hề ra tay đánh dân. Công an luôn luôn là
bạn của dân, vì dân, do dân, phục vụ dân”.
Báo Công An Nhân dân và An ninh Thế
giới đều đăng tải như thế.
5/ Công an CSVN thú
nhận bắn chết người
Gần đây nhất, ngày 25/5/2010,
công an xã Tĩnh Hải, huyện Tĩnh Gia trong
lúc “tham gia đảm bảo an ninh trật
tự trong quá trính giải tỏa mặt
bằng (tức cướp đất
của dân để chia lô bán cho ngoại quốc) đã
xô xát với nhân dân, thấy tình hình
phức tạp, một công an viên đã dùng
súng bắn chỉ thiên khiến cho 2
người bị thương và một
người chết”. Đó là lời
phát biểu của Thiếu tướng
Đồng Đại Lộc, Giám đốc Công an
tỉnh Thanh Hóa trả lời PV báo Dân Trí
ngay sau vụ việc công an nổ
súng bắn chết dân.
“Em Lê Xuân Dũng 12 tuổi, ông Lê
hữu Nam 40 tuổi bị bắn chết và
chị Lê thị Thanh bị thương ở tay
là những phần tử quá khích
đã giằng cướp súng của
của công an nên bị đạn lạc”.
Lực lượng Công an nhân dân Việt Nam với quyết tâm:
“CHỈ BIẾT CÒN ĐẢNG CÒN MÌNH” không
chỉ là một khẩu hiệu nằm trên
các tấm panô vĩ đại. Nó đã
thể hiện bằng hành động sắt
máu của công an khắp nơi.
Chỉ nhục một điều
là, Công an nhân dân Việt Nam “anh hùng ta” chỉ
giỏi trong việc hà hiếp, đàn áp,
khủng bố dân một cách rất nhiệt tình,
hăng say mù quáng trong vai trò làm chó
săn bảo vệ cho bọn lãnh tụ Cộng
sản Việt Nam được ngồi vững
trên chiếc ghế độc tài lâu dài tiếp
tục đè đầu cưỡi cổ nhân dân. Trái lại đứng trước
kẻ thù xâm lược là bọn Tàu
phù thì lại khiếp nhược, khúm
núm quỵ lụy rất ti tiện, hèn hạ.
Mỗi khi đối mặt với bọn Tàu
phù nghênh ngang, hống hách trên đất
nước mình, trong các vụ xích mích
ở các công trường hay ngay trên phố
Hà Nội, trên Tây nguyên…hoặc trường
hơp ngư dân bị bọn Tàu ô bắn giết
ở đảo Hoàng Sa, kêu cứu, thì “Công
an anh hùng ta” đều thực hiện mưu
kế thứ 37 trong binh pháp Hồ Vỏ Chuối
là “gần bắn xa đâm”.
-Bác nói lạ! Xưa
nay trong binh pháp, chiến đấu với
địch, xa thì bắn, gần thì
đâm, cớ sao Bác lại nói
ngược như thế?
- Ông anh nói chí phải! Binh
pháp Tôn Võ Tử thì đúng là
như vậy. Nhưng “Công an anh hùng ta” chỉ là
một bọn vô học, lưu manh côn đồ, du thủ
du thực, được tuyển dụng huấn
luyện chuyên làm tay sai cho bọn Mafia lãnh
đạo ăn cướp, chỉ biết hà
hiếp dân là chính thì biết gì về quân
sự chiến đấu với kẻ thù. Bởi vậy
khi đối mặt kẻ thù thì xử
dụng chiêu thức “gần bắn xa đâm”. Nghĩa là khi địch quân ở gần
thì “Công an anh hùng ta” sợ quá, bắn
cả cứt đái ra quần. Còn khi thấy
địch ở xa xa thì đã ba chân bốn
cẵng đâm đầu chạy trốn trối
chết rồi! Đó chính là binh
pháp Hồ Vỏ Chuối của bác Hồ
chứ không phải của Tôn Võ Tử.
-Ra là thế! Thảo nào chủ
sao thì tớ vậy! Bọn lãnh đạo
chóp bu tại Bắc Bộ phủ đã
hèn hạ khom lưng, cúi đầu trước
bọn bá quyền Bắc kinh dâng đất, dâng
biển để cầu an thì đám chó
săn lâu la, lục chốt, tép riêu sức mấy
mà dám ho he với bọn Tàu khựa!
Năm Kỷ Hợi, tháng
Đinh Sửu, ngày Đinh Tỵ, chế
độ cộng sản Việt Nam sụp đổ.
Chỉ trong một đêm có hơn 5 vạn công an viên
bị cắt gân tay. Điều
lạ lùng là công an nào dùng tay
trái đánh dân thì gân tay trái bị
cắt. Công an nào dùng tay phải bắn dân
thì gân tay phải bị cắt.
Không biết thủ
phạm là ai. Chỉ
nghe huyên truyền là do dân oan tự động
làm để báo thù./.