Nguyễn Thanh Ty
Tam Vô Và Ba Không
Tam vô của Hồ chí Minh
Vào
đầu thế kỷ thứ 19, nước An
Nam sắp đến thời kỳ hạ
ngươn tận diệt nên ở làng Đai
Khố mới nảy sinh ra một quái nhân
để tàn hại đất nước
này. Làng này trước kia có tên là
Kim Liên nhưng đa số dân trong làng quá nghèo
khó, không có ruộng đất, chỉ đi
làm thuê, cấy mướn cho người ta, quanh
năm chỉ đóng khố thay quần, nên
người đời thường gọi
là làng Đai Khố.
Lúc mới sinh quái nhân đã
có dị tướng. Trán vồ, lưỡng quyền
cao, nhô hẵn ra trước như hai quả
núi khô, hai hốc mắt lõm sâu, tối như
hang Cốc Bó, bản Pắc Pó, nhưng hai con
mắt thì sáng quắc, ánh mắt
sắc như dao bổ cau. Ai ai nhìn
vào cũng thấy sợ.
Đúng
lúc, có vị đạo sĩ đi ngang,
đứng nhìn hồi lâu rồi phán
rằng:
-Thằng
bé này có tướng quỉ u, mai sau sẽ
lập nên nghiệp lớn đây, nhưng tiếc thay…
Người
nhà nghe đạo sĩ nói nửa
chừng rồi nín bặt, vừa
mừng, vừa sợ, theo
gặng hỏi, đạo sĩ chỉ im lặng
rồi bỏ đi.
Quái
nhân chính là con ông Nguyễn Sinh Sắc và
bà Hoàng thị Loan, tên là Sinh Cung tự
Tất Thành. Nguyễn Sinh Sắc
là một quan Tri huyện ở huyện Bình
Khê, Bình Định, nghiện rượu, suốt ngày
be bét, bỏ bê việc quan.
Năm 1910, có
người dâng đơn khiếu kiện làm
dở tiệc rượu, liền bị quan Tri
huyện nổi giận đánh đòn một trăm
trượng đến chết.
Triều đình Huế trị tội
Sắc, cách chức, lột áo mão,
đuổi về làm dân bạch đinh.
Sắc xấu hổ, bỏ Bình
Định lần mò vào
Nguyễn
Tất Thành theo cha, sống
đời cơ cực, không được
học hành, đâm ra oán cha, căm hận triều
đình Huế, phẩn chí, muốn tung hoành thiên
hạ như chí lớn Cao Bá Quát:
Ngã quân tử kiến cơ nhi
tác
Dục vi Nghiêu Thuấn quân dân
Nhưng
tiếc thay, Tất Thành tài lại hèn,
sức lại mọn, chỉ biết nghiến răng
nuôi dưỡng căm thù.
Năm
1911, Tất Thành mới 19 tuổi, lẻn xuống
tàu buôn Amiral của Đô đốc Latouch Tréville
ở bến Nhà Rồng, cải tên là Văn
Ba, có ý định trốn sang Pháp để
mong có cuộc đổi đời.
Đến
Pháp, Tất Thành nộp đơn vào học
trường Thuộc địa Pháp. Đơn
bị bác. Không được Phú Lãng Sa
nhận vào học, Tất Thành tếch sang
xứ cờ hoa Huê Kỳ.Cống hỷ, Mẹc
xi, Thanh Kìu đây thuộc cả. Không Tàu, không
Tây thì tớ sang Mỹ. (Nhại Tú
Xương) Ở Mỹ một năm
cũng chẳng được gì. Năm
sau,Tất Thành chạy sang Anh, làm nghề cào
tuyết, đốt lò, phụ bếp ở
các nhà hàng và khách sạn để
tìm chân kinh, học cách cứu nước.
Mãi
đến cuối năm 1917, vẫn không tìm ra
được cuốn “Quì hoa bảo điển”,
đệ nhất bí kíp võ lâm, Tất Thành
chán nãn, quay trở lại Phú Lãng Sa
tiếp tục mò kiếm chân kinh.
Ngày
19 tháng 6 năm 1919, Hội những
người An Nam yêu nước gồm có
các nhà ái quốc Việt Nam như Phan Chu Trinh,
Phan văn Tường, Nguyễn thế Truyền
có cả Nguyễn Tất Thành, ký tên chung là
Nguyễn Ái Quốc, giao cho Tất Thành bản Yêu
sách của Nhân dân An Nam gồm 8 điểm, trao
tận tay Tổng thống Pháp đang dự
Hội nghị Hòa Bình Versailles, để
đòi hỏi Pháp và Đồng minh
thực thi lý tưởng của Tổng
thống Wilson cho các lãnh thổ thuộc
địa của Pháp ở Đông Nam Á.
Bản
yêu sách được hội nghị chú
ý, Tất Thành thừa thế xông lên,
tự nhận mình là Nguyễn ái Quốc
và xử dụng cái tên mạo nhận ấy
suốt 30 năm về sau để giở đủ
trò ma giáo.
Năm 1920, Nguyễn Ái Quốc (Tất
Thành) đọc “Luận cương về vấn
đề dân tộc và thuộc địa”
của Giáo chủ Ma giáo Lenin. Kể từ đó
Tất Thành-Ái Quốc gia nhập vào băng
đảng Cộng sản, một loại giáo
phái trong Mác Xít thần giáo, được
Giáo chủ truyền cho bí kíp “Quì hoa
bảo điển” và kinh
thư Tam vô.
Ái
Quốc từ đó, ngày ngày chăm
chú học “Chủ thuyết Tam vô” để du
thuyết thiên hạ, đọc khẩu quyết chân
kinh “ Quì hoa bảo điển”, khổ luyện
ngón nghề sát thủ.
Thật
ra cuốn bảo điển này chỉ là bổn
nhì, đổ giả, được photo copy
tới lần thứ bảy, tam sao thất
bổn, nên biến chất thành “Cửu âm bạch
cốt trảo”, môn võ công tối độc của
cặp vợ chồng Mai Siêu Phong song sát, chuyên
đào mả lấy sọ người để
luyện mười đầu ngón tay trở
nên cứng như sắt. Nạn nhân chết
dưới tay vợ chồng Mai Siêu Phong
đều bị bấm lủng sọ.
Nguyễn Ái Quốc sau này về
nước, đã dùng “Cửu âm bạch
cốt trảo” giết hơn một trăm bảy chục
ngàn người nông dân vô tội miền
Bắc trong chiến dịch “Cải cách ruộng
đất”.
Tháng
6 năm 1923, Nguyễn Ái Quốc sang Nga La Tư
để diện bích, luyện thêm ngón nghề
tại hang động Đại học Đông
Phương. Tại đây, Ái Quốc dự
hội nghị “Thành Mốc Cu luận kiếm” lần
thứ nhất Quốc tế Nông dân và
được bầu làm Tả sứ trong Ban
Chấp hành và Chủ tịch đoàn Quốc
tế Nông dân của Đệ tam Quốc tế.
Tại Đại hội luận kiếm lần
thứ 5 Đệ Tam Quốc tế (họp từ
ngày 17 tháng 6
đến ngày 8 tháng 7 năm 1924), cũng tại thành Mốc Cu, nhờ nộp cho
tổ chức Đệ Tam Quốc tế một bản
Báo cáo về t́nh h́nh Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ với nhận xét
về các tầng lớp địa chủ, tăng
lữ,... của Việt Nam như sau;
Những địa chủ ở đây
chỉ là những tên lùn tịt bên cạnh
những người trùng tên với họ
ở châu Âu và châu Mỹ (…) Không có vốn
liếng gì lớn…, đời sống của
địa chủ cũng chẳng có gì là
xa hoa, An Nam chưa bao giờ có tăng lữ…”
Ái Quốc được đề
cử là Đệ nhất Hộ pháp Ban
Phương Đông, phụ trách Cục Phương
Kể
từ đó, Ái Quốc được
Giáo chủ tín nhiệm đưa qua Trung Quốc
du thuyết, hoạt động tuyên truyền, khuyếch
trương thanh thế giáo phái Mác Xít
ngày càng rộng lớn.
Năm
1941, Tất Thành đã luyện đủ
mười thành công lực, chưởng
lực mạnh mẽ đạt đến mức
hỏa hầu, có thể phóng chỉ giết
người cách xa mươi thước trong
chớp mắt, được Giáo chủ
cho xuống núi trở về xứ An Nam,
ẩn núp tại hang Cốc Bó, Pác Bó
để lập đảng, kết bè, tụ tập
gian nhân, ác khấu trấn áp giang hồ,
chờ ngày cướp chính quyền
để độc bá thiên hạ.
Năm 1942, khi biết
được nguồn gốc của mình xuất
thân trong cảnh “quạ nuôi tu hú”, chính là
cháu nội của Hồ Sĩ Tạo chứ không
phải Nguyễn Sinh Nhậm, Tất Thành liền
bỏ họ Nguyễn không thương tiếc,
đổi ngay thành họ Hồ, lấy tên là Chí
Minh: Hồ Chí Minh.
Sở
dĩ Hồ lấy tên là Chí Minh cũng là
chôm bí danh của nhà ái quốc Hồ Học
Lãm, người đã lập ra Việt Nam
Cách mạng Đồng minh hội gọi tắt
là Việt Minh tại Nam Kinh năm 1937. Năm 1938,
Ái Quốc lúc đó với bí danh
là Hồ Quang, từ Liên Xô qua Tàu lần
thứ ba, ra lệnh cho thủ hạ thân tín
của mình như Lâm Bá Kiệt (Phạm văn
Đồng), Dương hoài Nam (Võ nguyên Giáp),
Lý quang Hoa (Hoàng văn Hoan) len lỏi vào
hàng ngũ của Việt Minh nằm vùng
để làm nội tuyến chờ cơ hội
cướp đảng Việt Minh của Hồ
Học Lãm.
Quả
nhiên, chỉ 4 năm sau đó, 1942, Hồ Học
Lãm phần già yếu, ít hoạt động,
các đảng viên cộng sản lấy danh nghĩa
Việt Minh để hoạt động cho đảng
cộng sản rồi dần dần chiếm dụng danh
xưng này một cách nhẹ
nhàng. Hồ Quang cũng thừa
cơ chiếm luôn cái tên Chí Minh.
Cũng kể từ đó cái
tên Hồ Chí Minh bị chiếm lãnh và
được xử dụng cho đến
ngày tàn.
Ngày cướp
chính quyền đã đến!
Sách Đảng viết:
Cách mạng tháng Tám (ngày 19 tháng 8
năm 1945) là cuộc
cách mạng thắng lợi của Việt Minh
với quân Pháp,
Nhật
Bản và chính phủ Đế quốc Việt Nam
do vua Bảo
Đại phê chuẩn. Kết quả chính
phủ cũ giải tán và sau đó đến ngày 2 tháng 9
năm 1945 Hồ Chí Minh
đọc bản Tuyên ngôn Độc lập Việt Nam
khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng ḥa.
Nhưng sự
thực thì sao? Nhạc sĩ Tô Hải, một đảng viên
lão thành của đảng cũng đã
dày công góp sức cho cái đảng ma
giáo này, cuối đời hối hận,
đã khai huỵch toẹt cái ngày ăn
cướp ô nhục đó trong “Hồi ký
của một thằng hèn” như sau:
Đúng
ngày 17 tháng 8 năm 1945, chúng tôi kéo nhau đến quảng trường
Nhà Hát Lớn Hà Nội mít-tinh chào mừng chính phủ
Trần Trọng Kim. Cuộc
mít-tinh bắt đầu được mấy phút
bỗng hàng loạt cờ đỏ sao vàng được tung ra, cờ quẻ ly
bị giật xuống và trên bục diễn giả
xuất hiện một
người đeo poọc-hoọc, đăng đàn
diễn thuyết, kêu gọi đồng bào đi theo Việt Minh, đánh Pháp,
đuổi Nhật, đ̣i lại áo cơm, tự do, xóa
bỏ gông xiềng... Những khẩu hiệu vừa phát ra đă có hàng
ngàn người hô to hưởng ứng. Không một
tiếng súng. Không một sự phản kháng từ ai,
từ đâu, dù trại lính
Nhật ở cách đó chỉ khoảng 300 mét!
Cuộc
khởi nghĩa thành công nhanh như thế
đó!
“Quả lừa lịch sử”
bắt đầu chính là từ đây! Vận nước
khốn nạn nhất cũng bắt đầu từ
đây! Tại sao Việt Nam không độc lập như
Mă Lai, Nam Dương, Ấn Độ, Thái Lan, Phi Luật
Tân... mà phải qua 30 năm chém giết kẻ thù th́ ít.... mà
chém giết nhau th́ nhiều?”… Đây là sự hy sinh cực
kỳ vô duyên cho cái chủ nghĩa không tưởng, cho
sự tiếm quyền của một lớp người
âm mưu làm VUA của cái nước Việt Nam khốn
khổ này bằng chiêu bài Độc Lập, Tự Do mà
ở các nước, người ta đă có từ nửa
thế kỷ nay rồi v́ may mắn thay, họ không có
Đảng Cộng Sản cầm quyền! Bi kịch
lớn của triệu tấn bi kịch nhỏ chính là
đây! (HKCMTH – tr. 424 - 425)
Lời vị đạo sĩ năm xưa
giờ đã ứng nghiệm vào cuộc
đời của quái nhân Nguyễn Tất
Thành – Hồ Chí Minh. Bây
giờ người ta mới hiểu rõ
nửa câu nói bỏ lửng của vị
đạo sĩ với hai chữ: tiếc thay!
Hồ
đã được làm vua nhưng lại
tự nguyện làm tay sai cho
giặc để thẳng tay giết dân mình
theo lệnh của tam Giáo chủ Mác-Lê-Mao
đúng theo chủ thuyết cộng sản Tam vô.
Hồ
đã thực hiện đúng chủ thuyết
là: Vô gia đình, vô tôn giáo và vô tổ quốc
để trả hận cho cha, trả thù triều
đình Huế cho đến ngày xuôi tay,
nhắm mắt.
-Vô gia đình:
Suốt đời Hồ nhất định
chỉ chơi bời trai gái phong lưu, hết cô
gái này đến cháu gái nọ. Biết bao nhiêu là gái, từ Thái,
Tàu, Tây, Nga, đến gái Mường, Thổ,
Mèo… đều qua tay. Hồ chỉ
chơi chứ không chịu lập gia đình
chính thức.
Trường
hợp duy nhất không thể giấu diếm là
Hồ có với cô Nông Thị Xuân một
đứa con trai bất đắc dĩ là
Nguyễn Tất Trung thì Hồ cho tay
sai Trần Quốc Hoàn thủ tiêu để bịt
miệng.
Khi lên ngôi Hoàng đế, Hồ không nhận
bà con, thân thích với ai hết, kể cả
bà Nguyễn thị Thanh, chị ruột của
mình. Mả cha là ông Nguyễn
Sinh Sắc (chết năm 1929) dập vùi nấm
đất sè sè ở Cao Lãnh, Đồng
Tháp, Hồ cũng bỏ hoang phế, không ngó
ngàng tới. Mãi đến năm 1977, dân
chúng làng Hòa An thương tình
người xấu số, bạc phước,
có con làm vua mà chịu cảnh mồ hoang
mả lạnh, mới gom góp tiền lại
để cải táng và tôn tạo ngôi mộ cho
đàng hoàng, ấm cúng.
Chiến
dịch “Cải cách ruộng đất” do Stalin và
Mao Trạch Đông ra lệnh cho Hồ phát động
thi hành là cơ hội hiếm ngàn năm cho Hồ
trả thù những nông dân giàu có khi dòng
họ Hồ còn nghèo khổ đi cấy rẽ,
làm thuê cho họ ở làng Đai Khố. Nửa triệu nông dân bị Hồ qui kết
là địa chủ. Số bị bắn
là 172.008 người. Bà Nguyễn thị
Năm, mẹ nuôi chiến sĩ, từng cưu mang,
che dấu Hồ, Đồng, Giáp… bị Hồ đem
bắn trước tiên để lấy khí
thế và thị uy với nông dân.
-Vô tôn giáo:
Tôn giáo
là kẻ thù không đội trời chung với cộng sản. Nhất
là Thiên chúa giáo. Cho nên Cộng sản chủ
trương tôn giáo là thuốc phiện độc
hại cần phải tiêu diệt triệt để
trước tiên. Tất cả đền đài,
miếu mạo, lăng tẩm, chùa chiền, nhà
thờ, tu viện…của mọi tôn giáo Phật,
Chúa, Cao Đài, Hòa Hảo, Tin Lành…
đều bị Hồ ra lệnh phá dở,
đập bỏ thẳng tay. Tín
ngưỡng bị cấm ngặt.
Lúc
sắp nhắm mắt lìa đời
để đền tội ác với nhân dân
Việt Nam, Hồ còn cố trối trăng là
sẽ đi gặp các cụ tổ Các Mác
Lênin ở thiên đàng cộng sản chứ
không nói là đi gặp tổ tiên, ông bà
họ Hồ, họ Nguyễn của mình cốt
để trọn lòng hiếu thảo với
Giáo chủ ma giáo.
-Vô tổ quốc
Chủ thuyết cộng sản là thế
giới đại đồng, không có biên
giới quốc gia. Tố
Hữu, một đại nịnh thần, thăng
quan, tiến chức nhờ bằng đầu
gối, chuyên làm thơ bợ đít Hồ,
bợ đít Stalin, đã diễn giải
ý đó một cách rõ ràng qua câu
thơ:
Bên kia biên giới là nhà,
Bên nay biên giới cũng là quê
hương.
Giải
giang sơn gấm vóc nước Việt
đã được bao đời tiền nhân
Đinh, Lê, Lý, Trần…dầy công gây dựng, nay
Hồ cam tâm đem dâng cho bầy quĩ ngạ ma
vương cộng sản quốc tế.
Nhưng may
thay, hồn tổ quốc Việt Nam hãy còn linh
thiêng nên đã ngăn cản Hồ đem cống
nạp cho Tàu. Khi Hồ vừa cướp ngôi
của Bảo Đại thì đất
nước Việt Nam bị chia xé làm hai.
Hồ chỉ có một nửa giang
sơn phía Bắc nên Tàu không chịu nhận.
Để
làm tròn sứ mạng “mãi quốc”, Hồ
van nài Tàu Nga viện trợ tài khí,
súng đạn thật dồi dào để Hồ
có thể nuốt trọn miền Nam mau chóng.
Nhưng có điều Hồ và quan thầy Nga-Trung
không ngờ là anh nhà giàu Mỹ bỗng
nhiên nhảy vào miền Nam, đóng vai Lục vân
Tiên cản mũi kỳ đà, giúp chế
độ Cộng Hòa, cản làn sóng
đỏ cộng sản, làm cho Hồ thất điên
bát đảo, mệt cầm canh trong việc cướp
nước, bán nước.
Ba
không của Nguyễn chí Vịnh
Mặc
dù bị Tàu hiếp đáp, làm nhục,
lấn đất, lấn biển, cướp
đảo, chiếm Tây nguyên… dần dà như tầm
ăn dâu mà cả một bọn lãnh đạo
Bộ Chính trị đều co đầu rút
cổ như con bọ hung trong đống phân trâu không
dám có một động thái hay lời
phản kháng nào chống đỡ. Dù chỉ là yếu ớt, chiếu
lệ.
Rõ
nhất là hành động ngang ngược,
ngạo mạn, hung tàn của bọn Tàu ô
đã bắn chết ngư dân Lý Sơn,
húc chìm tàu, bắt ngư dân hành
nghề cá quanh đảo Hoàng Sa để
đòi tiền chuộc lên đến hàng tỷ
đồng. Sự việc diễn ra đã nhiều
năm, nhiều lần, tiếng dân kêu cứu vang lên
tận trời xanh, lan ra ngoài thế giới.
Vậy mà tập đoàn Việt gian cộng
sản vẫn bưng tai, bưng mắt, bưng
miệng im lặng từ bấy đến nay.
Không
còn nỗi nhục nào hơn, mới đây khi
trả lời báo chí phỏng vấn về
Hội nghị Shangri-La ở Singapore vấn đề
Trung Quốc với biển Đông, Bộ
trưởng Quốc phòng Phùng quang Thanh vẫn
muối mặt tuyên bố một cách rất
hèn yếu, cốt để nịnh Bắc Kinh: “Không
để các lực lượng xấu
xử dụng vấn đề biển Đông
để kích động, chia rẽ quan hệ
Việt Nam-Trung Quốc, chia rẽ quan hệ giữa
Đảng và Nhà nước với nhân dân
Việt Nam”.
Rõ
hơn nữa, ngay sau khi hai chiếc tàu quân
sự của Mỹ ghé thăm Việt Nam,
Nguyễn Chí Vịnh, Thứ trưởng
Quốc phòng đã vội vàng sang Bắc
kinh xin gặp Bộ trưởng Quốc phòng
Trung quốc Lê quang Liệt để tường
trình và thanh minh rằng: “Việc tàu quân
sự của Mỹ cặp bến Việt Nam
chỉ lả thỏa thuận hình thức kỷ
niệm 15 năm quan hệ ngoại giao, theo yêu cầu
của Mỹ, chỉ có quan chức địa
phương lên thăm tàu Mỹ mà thôi chứ
Trung ương chúng tôi không có ai cả v.v…”
Nghiêm
trọng hơn nữa, bức ảnh đăng
trên báo Trung quốc cho thấy Vịnh đang khum
tay khép nép một cách hèn hạ
trước mặt tên Tàu, Quang Liệt,
ngồi dựa ngữa, hách dịch ở
ghế bành. Vịnh xin đưa ra chính sách
ba không thề rằng: “Việt Nam sẽ không bao
giờ tham gia liên minh quân sự nào. Việt Nam
sẽ không là đồng minh quân sự của
bất cứ nước nào. Việt Nam sẽ
không cho nước nào đặt căn
cứ quân sự ở Việt Nam. Việt
Và
còn nói rằng: “Việt
Cũng cần mở dấu ngoặc
ở đây để hỏi Nguyễn chí Vịnh
là ai, quyền hạn gì mà dám tuyên bố
láo lếu, vung vít như thế?
Theo ông
Bùi Tín thì: “Vịnh chỉ là một
thứ trưởng quốc phòng, không có
chân trong bộ chính trị, không có chân trong Ban
Chấp hành trung ương đảng, không có chân
trong đảng ủy quân sự trung ương,
cũng không hề là đại biểu quốc
hội, lại dám khẳng định một
đường lối chính trị, ngoại giao,
quốc phòng trọng đại như thế? Và
đường lối này chưa hề
đượcc bàn cãi, quyết định,
công bố bởi quốc hội, ngay khi quốc
hội chỉ là công cụ của đảng. Chủ
tịch nước, thủ tướng, bộ
trưởng ngoại giao và cả đến
Tổng bí thư đảng CS
cũng chưa bao giờ công bố một
đường lối chính trị, quốc
phòng, ngoại giao mang nội dung như thế.
Đằng sau Vịnh là ai? Ai cho phép Vịnh công bố điều
ấy? Sao lại công bố trên
đất người ta?”
Tuy chỉ
là thứ trưởng quốc phòng
nhưng hiện nay Vịnh là nhân vật quyền uy
nhất trong bóng tối của đảng cộng
sản. Ngoài việc Vịnh là con của
tướng Nguyễn Chí Thanh, con nuôi của đại
tướng Lê đức Anh, con rể
tướng Đặng vũ Chính, Tổng
cục trưởng Tổng cục tình báo
quốc phòng (T2) siêu quyền lực. Nhưng
đặc biệt quan trọng hơn cả là
Vịnh đang là một tên nội gián thân tín
của Trung quốc, một bộ phận đắc
lực của cơ quan tình báo Hoa Nam hải
ngoại.
Vịnh
đang nắm trong tay Tổng
cục 2 là chi nhánh của cơ quan tình
báo Hoa
Chính
vì thế mà những điều tên Vịnh
đã phát ngôn hèn hạ như vậy, phải
hiểu là: “Trong bất cứ tình huống
nào Việt Nam cũng không dám chống lại Thiên
triều, dù Thiên triều có xâm phạm chủ
quyền, Thiên triều có chiếm đoạt lãnh
thổ, Thiên triều có bắn giết dân Việt
như ngóe đi nữa thì chính sách
quốc phòng Việt Nam cũng vẫn thà ôm
đầu chịu chết chứ không dám có
một hành động chống lại.”
Có
điều lạ là sau lời khiếp
nhược của tên Vịnh nói với tên
Tàu phù Lương quang Liệt thì thái
độ của bọn Bắc Bộ phủ
đến nay vẫn thủ khẩu như bình rất
khó hiểu, không lắc mà cũng không gật.
Một
lời tuyên bố như thế có ý nghĩa
như một thông điệp gửi tới
quốc tế rằng Việt Nam từ chối
liên minh quân sự với bất cứ
nước nào khác để chống lại
Trung Quốc trong mọi trường hợp.
Việt Nam tự khóa cửa nhà mình, nếu
có cháy nhà cũng chẳng nhờ ai
cứu giúp. Nếu đúng vậy thì
bọn lãnh đạo đảng cộng sản
Việt Nam quá hèn nhát nhu nhược.
Người
ta cứ tưởng rằng sau khi tên Vịnh
phát ngôn bừa bãi như thế thì lập
tức Bộ Chính trị sẽ triệu hồi
về nước, lột lon, cách chức, truy
tố ra tòa án binh để xử tội
làm nhục quốc thể. Nhưng cho
đến nay đám chóp bu cộng sản vẫn
lặng như tờ.
Về phần bọn Bắc kinh thì
được nước làm tới,
mỗi lúc mỗi ngang ngược, ngạo
mạn.
Ngay sau khi
Vịnh khum tay cúi đầu khuất phục
trước Thiên triều thì Trung quốc cho
tàu ngầm cắm cờ dưới
đáy biển Đông, biểu thị cho thế
giới biết rằng biển Đông thuộc
chủ quyền của mình, có nghĩa là
các nguồn tài sản dầu mỏ, hơi
đốt, khoáng sản, hải sản vô cùng
tận… đều là của mình.
Cũng
chưa hết căm tức với việc
Việt Nam đón tàu chiến Mỹ vào
thăm, con mụ Lý Hồng Mỹ, một cây bút
bình luận trên báo Nhân dân Nhật báo Trung
Quốc lên tiếng cảnh cáo Việt Nam hết
sức ngạo mạn:
-Quan
hệ Trung-Mỹ đang đi tới giai đoạn
gay go, bất cứ quyết định thiếu khôn
ngoan nào của Việt Nam sẽ chỉ làm căng
thẳng thêm khi tình hình đã tồi
tệ… đu giây là nguy hiểm, nếu Việt Nam
thúc đẩy 2 cường quốc xung
đột thì Việt Nam sẽ bị thiệt hại
trước hết”.
Thêm một
tên Khương Du, người phát ngôn của
Bộ Ngoại giao Trung quốc, đe dọa trên báo
China Post rằng:
-Chúng
tôi cảnh cáo Việt
Người
dân trong nước đặt câu hỏi:
-Vì sao
bọn bành trướng Bắc Kinh ngày
càng lộng hành tỏ ra ngạo mạn khinh
thường, láo xược, hung hăng
đối với ta như thế mà đảng
và Nhà nước cộng sản Việt Nam
cứ câm miệng hến, gục đầu thủ
phận là sao?
Như
phần trên đã nói, bọn lãnh đạo
hiện nay đang thực thi di chúc của “Bác
Hồ muôn vàn kính yêu” là tiếp tục
từng bước dâng đất nước
này cho bọn Tàu phù.
Tại sao bọn chúng lại bán
nước từng bước mà không dâng
nộp ngay một lúc?
Rất
dễ hiểu. Nếu chúng dại dột hám
ăn, tuyên bố ngay rằng: “Việt
Tuy
nhiên, ngoài một số lãnh đạo cốt
cán bị bọn Bắc Kinh mua chuộc, cụ
thể là tên thứ trưởng Nguyễn
chí Vịnh, chỉ vì muốn được
Thiên triều nâng đỡ, bảo kê cho chức
Ủy viên trong Ban Chấp hành Trung ương
đảng trong kỳ đại hội sắp
tới mà phải nói theo chỉ thị của
chúng, nói theo sự mong muốn của
chúng, thì không phải là toàn thể
tướng lãnh trong quân đội, đảng
viên trung thực thức thời trong
đảng đều như thế cả.
Cứ
xem cảnh trống đánh xuôi, kèn thổi
ngược trong nội bộ của chúng cũng
thấy được phần nào những pha đấu đá tranh ăn quyết
liệt âm ỷ bên trong ngày càng gay gắt.
Một
Nguyễn Phương Nga, phát ngôn viên của Bộ
Ngoại giao, lần đầu tiên dựa hơi
Mỹ đã mạnh miệng lên án Trung cộng
thăm dò dầu khí trong hải phận Việt
Nam.
Một
Lưu Nguyễn trên báo Công An Nhân Dân ngày 29/8/2010,
cũng lần đầu tiên dám nổi giận lên
tiếng mắng con mụ Lý Hồng Mai, bình
luận viên kỳ cựu của báo Nhân Dân là
“Bình luận viên giống cái” với bài
viết có nhan đề “Đừng nhắm
mắt nói bừa” khi mụ này nói
rằng “các quyết định thiếu khôn
ngoan của Việt Nam sẽ chỉ làm căng
thẳng gia tăng…” Lưu Nguyễn viết: “Té
ra bình luận viên “giống cái” này động
lòng trước tiến triển của quan hệ
Việt-Mỹ gần đây. Chỉ có điều,
những nhận định của bà ta là
hồ đồ, hoàn toàn vô căn cứ,
tức là nhắm mắt nói
bừa”. Buồn cười cái anh chàng
Lưu Nguyễn này vừa mắng lại
vừa run. Thay vì mắng
“đồ chó cái” mới hả giận,
thì chỉ dám nói nhè nhẹ là
“giống cái”. Thế mới
biết vừa đ… vừa run là vậy.
Thời
điểm gọi là “ba không” của tập
đoàn bán nước Đỗ
Mười, Lê Đức Anh, Nông Đức
Mạnh, Nguyễn Phú Trọng, Uông Chu Lưu (Phó
Chủ tịch Quốc hội) Nguyễn Chí Vịnh…
cũng giống như thời điểm “Tam vô” của
Hồ chí Minh, sắp sửa “đại công
cáo thành” trong việc quì gối xưng
thần, cống nạp đất nước cho Thiên
triều Đại Hán thì lại xãy ra
phép lạ bất ngờ chận đứng âm
mưu của chúng.
Năm 1954, xãy ra hiệp định Geneve chia
đôi đất nước, già Hồ vuột
mất cơ hội bán nước.
Năm 2010,
tập đoàn Mười, Anh, Mạnh, Triết,
Dũng sắp giao đất nước cho bá
quyền Bắc Kinh sau khi quì gối, khom lưng,
cúi đầu nhượng đất,
nhượng rừng, nhượng Tây nguyên,
nhượng biển, đảo thì Mỹ bỗng
dưng lù lù hiện ra án ngữ tuyên
bố “Mỹ có quyền lợi ở biển
Đông”. Rồi tà tà đưa tàu chiến
vào Việt Nam, lượn lờ quanh quần
đảo Trường Sa, Hoàng Sa, lại còn
mời phái đoàn quan chức binh lính
Việt cộng ra tham quan tàu, xem Mỹ dương oai
diệu võ, bảo là để kỷ niệm 15
năm ngày tái lập bang giao với Việt Nam
làm cho tập đoàn bán nước
cộng sản Việt Nam mắc nghẹn, ngắc
ngứ như nhai phải gân gà trong miệng.
Thật
là cảnh “há miệng mắc quai”, khác
nào con đĩ bắt cá hai tay.
Một đàng đang được anh nhà
giàu Mỹ sau 20 năm cấm vận, nay ra tay o bế,
nâng niu, hứa nuôi bao, cho đôn đầy túi,
sướng “rên mé đìu hiu”. Một
đàng lại “sợ teo chim”, lo ngay ngáy
thằng tình nhân Tàu phù bần tiện, tham
lam, vũ phu, nó cứ nay đánh, mại
thụi bầm mặt, sưng môi, không biết nó
thiến chỗ đội nón của mình lúc
nào?
Hồ
chí Minh khi rước hai mươi vạn quân
Tàu ô của Tưởng Giới Thạch vô
nước nuôi báo cô trong khi dân mình chết
đói gần hai triệu, cốt để lấy
lòng Đại Hán, có người chê
trách Hồ thấp trí, vụng mưu, Hồ
chống chế:
-Chính
sách của ta hôm nay là chính sách Câu Tiễn,
nhưng nhẫn nhục không phải là khuất
phục”
Tổng
thống nền Đệ nhị Việt Nam Cộng
Hòa Nguyễn văn Thiệu đã lưu lại
hậu thế một câu danh ngôn bất hủ như
một chân lý sừng sững:
“Đừng
nghe những gì cộng sản nói, hãy
nhìn kỹ những gì cộng sản
làm”
Quả
đúng như thế! Hãy nhìn kỹ hành
động hiện nay của bè lũ cộng sản
Ba Đình đanglàm: Nói vậy mà không
phải vậy.
Hồ nói:
-Nhẫn
nhục nhưng không phải là khuất phục!
Nhưng
Hồ và bọn con cháu đời sau làm:
-Thà
nếm phân, ăn cứt, chịu
nhục khuất phục Tàu để
được còn đảng, còn mình!
Lời
tuyên bố “ba không” của tên Nguyễn Chí Vịnh
ngày 25 tháng 8 năm 2010 trước mặt
Bộ trưởng Quốc phòng Trung quốc
Lương quang Liệt thay cho Bộ Chính trị Trung
ương đảng cộng sản Việt Nam
đã thể hiện rõ chính sách “Câu
Tiễn đớp phân thích hơn nằm gai
nếm mật”.
Đại
lễ “Ngàn năm Thăng Long” Bắc Bộ
phủ đã tiêu tốn hết 4.5
tỷ đô la để làm rình rang, phô
trương sự “phồn vinh giả tạo”,
sắp diễn ra từ ngày 1/10 đến
10/10/2010, cũng đúng ngày Quốc Khánh
của Trung Quốc, sẽ chứng minh cho thấy
rằng Bộ Chính trị đảng cộng
sản Việt Nam đang vui mừng với
thành quả nước An Nam từ nay
sẽ bước vào kỷ nguyên Bắc
thuộc lần thứ năm.
Giấc mơ “thế giới đại
đồng” của Hồ chí Minh nay sắp
thành hiện thực.
Bọn
Đỗ Mười, Lê Đức Anh, Nông
Đức Mạnh, Nguyễn Phú Trọng, Uông Chu
Lưu… con cháu của Hồ Quí Ly, Trần Ích
Tắc, Lê Chiêu Thống còn chờ gì
nữa mà không mau mau lớn tiếng tung hô:
“Thiên triều Đại Hán Vạn tuế! Vạn
tuế! Vạn vạn tuế”, cho thỏa chí bình
sinh! ./.
Nguyễn Thanh Ty
05/9/2010