Sinh
Hoạt Chánh Trị:
Ra Mắt Tác Phẩm
“Sống C̣n Với Dân Tộc”
của cố
Kỹ Sư Hà Thúc Kư và Hội Luận “VN Trong
Thế Chiến
Lược Giữa HK và Trung Cộng ở Biển Đông”
Phóng
viên Xây Dựng
Trưa Chủ
Nhật Ngày 31 Tháng 10, 2010, trong khi bà Ngọai Trưởng
Hoa Kỳ (Bà Hillary Clinton) đang ṿng quanh các nước Á
Châu để tham dự hội nghị thượng
đỉnh các nước Đông Á, th́ thành phố Houston
hân hạnh chào đón những người công dân ưu tú
đă dành một phần đời hy sinh cho đất
nước. Những vị này, từng giữ những vai
tṛ quan trọng của đảng phái, trong suốt
chiều dài của cuộc chiến Quốc Cộng, hôm nay
có mặt tại nhà hàng Kim Sơn, để cùng nhau hội
luận về
một đề tài đang ray rức trong tâm
tư của khối người Việt QG hải
ngọai, khi nh́n về quê hương: VN Trong Thế Chiến Lược Giữa Hoa Kỳ
và Trung Cộng ở Biển Đông.
2
giờ:
Hội trường Kim Sơn Bellaire sang trọng,
tươi đẹp hơn nhờ các tà áo dài qua lại
của các bà trong nhóm Hoa Lư. Các thành viên trong BTC chuẩn
bị âm thanh, Ban Tiếp Tân đón chào
quan khách.
Trong hội trường
giăng ngang biểu ngữ: Nhân bản, Dân chủ,
Thịnh Vượng = Đường SinhTồn của
Dân Tộc
Buổi hội luận này có 2
phần:
1.Ra mắt tập Hồi Kư “Sống C̣n Với Dân Tộc”
của Kỹ Sư Hà Thúc Kư, vị lănh tụ thân yêu
của tổ chức chánh trị tầm vóc (Đại
Việt Cách Mạng Đảng, đă tạ thế ngày 16
tháng 10, 2008 tại tiểu bang Maryland, Hoa Kỳ). Sau đó, cựu Đại Sứ Bùi Diễm thay
thế ông Hà Thúc Kư.
2.Hội luận
chánh trị với các diễn giả: cựu Đại
sứ Bùi Diễm, BS Mă Xái, Tiến sĩ Lê Minh Nguyên,
cựu Dân Biểu Nguyễn Đức Cung và nhà báo Lê
Văn.
Ngoài nhà báo Lê Văn, cựu
chủ biên chương tŕnh Việt ngữ đài VOA,
nghỉ hưu tại Houston, c̣n các vị trên đến
từ nhiều tiểu bang Hoa Kỳ. Các ông là những
đảng viên kỳ cựu hiện đang gĩư vai
tṛ quan trọng trong Tổ Chức, dù tuổi hạc đă
cao nhưng vẫn không ngừng nghỉ, quay quắt t́m
phương cách, để góp phần giải thể
chế độ CS độc đảng ở quê nhà.
Khai mạc lúc 2 giờ 2:20
dưới sự điều động của hai MC: ông
Đinh Quang Tiến, ông Trần Trí Hoàng. Các thành viên trong nhóm
Hoa Lư - tổ chức ngọai vi của Đại
Việt Cách Mạng Đảng – giữ nhiệm vụ
Tiếp Tân, Văn Nghệ, Tài Chánh v.v. Chương tŕnh
hội thảo qui tụ khoảng 150 người tham
dự.
Sau khi MC Đinh Quang Tiến
sơ lược về tiến tŕnh sinh hoạt của
Đại Việt Cách Mạng Đảng với vị chủ
tịch: Cựu Đại Sứ Bùi Diễm và BS Mă Xái,
chủ tịch Tân Đại Việt, ông Tiến kết
luận rằng, hậu duệ của hai đảng, tiếp
tục đi nốt con đường tiến tŕnh dân
chủ hoá tại VN, mà họ hy vọng sẽ giải
thể trong tương lai rất gần..
-Cựu Đại
Sứ Bùi Diễm tuy đă cao niên nhưng vẫn c̣n khương
kiện, giọng nói sang sảng, lời phát biểu
vẫn hùng hồn, ông có phong thái của một chính trị
gia, linh hoạt và tạo cảm t́nh cho những ai mới
gặp ông lần đầu với nụ cười thân
thiện.
-BS Măi Xái, chủ tịch đảng
Tân Đại Việt, cựu Dân Biểu VNCH 1967-1975, nguyên
Cố vấn PG Ḥa Hảo Trung Ương, tị nạn
tại HK năm 1980, hành nghề Y Sĩ tại Florida.
Sau lời chào
mừng, Đại sứ Bùi Diễm có lời cám ơn
cử tọa đă bỏ một buổi chiều rất
đẹp, tham dự chương tŕnh. Sự
hiện diện này đă chứng tỏ sự lưu tâm
đến sinh hoạt chánh trị, nhớ về
đất nước.
2: 31: Phần
Điểm Sách do Tiến Sĩ Lê Minh Nguyên (Nam Cali) và nhà báo
Lê Văn (Houston) phụ trách. TS Nguyên hiện là Phó Chủ
Tịch đảng Tân Đại Việt, trước năm 1975 là Chủ
tịch Tổng ĐoànSV của Phong Trào QG Cấp Tiến, đến HK năm 1975, ông
tiếp tục tham gia các sinh hoạt chánh trị của HK
và VN. Năm 2007, ông cùng 3 nhà tranh đấu Dân Chủ khác, được
TT Bush mời vào ṭa Bạch Ốc, trao đổi về các
vấnd 4ề trước khi Chủ tịch nước
CS sang thăm viếng HK.
Bằng một gịong
miền Nam chơn chất, Tiến Sĩ Nguyên nói rằng,
qua tập hồi kư của lănh tụ Hà Thúc Kư, kể
lại nhiều giai đọan, khiến cho ông đă nh́n
thấy h́nh ảnh và tâm sự của thời thanh niên, lúc
ấy quay quắt trước hiện t́nh đất
nước, đi t́m đảng phái để gia nhập.
Ông kể lại sự liên hệ của ông
với tác gỉa trong sinh họat đảng phái
dưới thời Đệ II Cộng Hoà. Tiến
sĩ Nguyên cho biết, ông gia nhập vào Phong Trào QG Cấp
Tiến từ năm 1969 và họat động trong đoàn
thể này từ đó cho tới hôm nay.
Trong ṿng 20 phút,
Tiến Sĩ Nguyên đă ngược gịng thời gian,
kể lại các câu chuyện trong nội bộ
đảng, nêu lên những dữ kiện để nói lên
cái nhân bản của chủ thuyết của Đại
Việt Cách Mạng Đảng (của ông Hà Thúc Kư –1965) và
của đảng Tân Đại Việt (cố GS
Nguyễn Ngọc Huy thành lập năm 1964). Tuy
cách thức tranh đấu có khác nhau nhưng bản
chất giống nhau. Khi GS Huy tạ thế, ông Hà Thúc
Kư đă bay qua Pháp tham dự tang lễ như trong tập
hồi kư cho ghi lại.
TS Nguyên chấm dứt phần
giới thiệu về tác gỉa trong giọng nghẹn ngào khi
đọc mấy câu thơ: Năm
tháng đă trôi qua. Ray rứt măi đời ta.
Nắng mưa miền cố thổ. Phong sương mấy độ qua
đường phố. Hạt bụi nghiêng ḿnh
nhớ đất quê!
2:46: Phần
điểm sách của nhà báo Lê Văn. Ông Lê Văn là
cộng tác viên cột trụ của đài VOA hơn 30 năm,
hiện nghỉ hưu tại
Dưới đôi mắt
của người làm truyền thông, không đảng phái,
tập hồi kư “Sống C̣n Với Dân Tộc” đă
được nhà báo ông Lê Văn phân tích tỉ mỉ
với từng chương và những trang quan trọng. (Cuốn sách này có 12 Chương).
Chương
1 và 2, tác giả kể lại thời niên thiếu cũng
như hầu hết các thanh niên cùng lứa tuổi,
quảng đời sinh viên, cuộc sống một công
chức.
Chương 3 là hiện t́nh đất nước với
biến chuyển chính trị sôi nổi Nhật đảo
chính Pháp, Việt Minh nắm chính quyền và tác giả
đă gia nhập Giải Phóng Quân, tham gia các trận đánh
chống Pháp. Chương 4, tác giả dấn thân vào chính
trường, gia nhập Đại Việt Quốc Dân
Đảng của lănh tụ Trương Tử Anh.
Chương 5, Vua Bảo Đại trên chính trụng.
Chương 6, sinh hoạt chính trị thời Ông Ngô
Đ́nh Diệm, tác giả đă bị ngồi tù trên 5
năm (1958-1/11/1963). Được thả,
Ông làm Tổng Trưởng Nội Vụ 4 tháng rồi
từ chức v́ không hợp chính kiến. . Chương 7 với vụ Biến động Ba
Ḷng khiến cho một số đảng viên của ông
Hồ Thúc Kư ngồi tù. Chương 8, thời gian
trốn tránh và tù tội.... Chương 9, sự phân hoá
của Đại Việt.
Tóm lại từ Chương 5
trở đi là những biến động đầy
sống gío trong cuộc đời tác giả dàn trải cho
đến Chương cuối cùng (12), tác giả nh́n
lại chặng đường đi qua khi tuổi đă
cao.
Kết Luận: Chúng tôi cũng có
chung cảm nghĩ với nhà báo Lê Văn khi đọc xong
cuốn sách, trong ḷng dấy lên một sự ngậm ngùi,
thương cảm số phận long đong bi đát
của một đảng phái và cá nhân của Kỹ Sư
Hà Thúc Kư, một người suốt một đời hy
sinh cho quốc gia, dân tộc.
Chú thích
cuả người viết: Đây là một tập Hồi Kư
chính trị, nhưng không khô khan, chứa đầy dữ
kiện sống thực trong một giai đọan
lịch sử đă xảy ra trong cuộc đời
đấu tranh của một lănh tụ, đáng cho chúng ta bỏ th́
giờ đọc (đóng gáy, b́a cứng, dày gần 400 trang, giá bán 25 đô la).
3 giờ 12: Phần
thuyết tŕnh của cựu Dân Biểu tỉnh Quảng
Nam, ông Nguyễn Đức Cung, đến từ New Jersey,
Philadelphia, là cựu Dân Biểu Quốc Hội VNCH từ năm
1971-1975, tù chính trị từ năm 1975-1988, hiện là
Chủ tịch Hội đồng Nghiên Cứu Sách Lược
của Đại Việt Cách Mạng Đảng.
Dân biểu Cung có giọng nói
hùng hồn và tài hùng biện, ông đem chủ
nghĩa Sinh
Tồn Dân Tộc ra luận bàn từng chi tiết, của
sự kiện có Nhân Bản th́ mới có Dân Chủ từ
đó mới có Thịnh Vượng và đó là con
đường sinh tử của dân tộc. Ông nêu ra câu nói
của TT Diệm: “Không có ǵ quí hơn nồi gạo
của nhân dân”, câu nói của Phan Bội Châu và nêu các dữ
kiện lịch sử ra để chứng minh và kết
luận rằng, nếu có sự đồng tâm nhất trí
cùa dân th́ mới tạo sự đoàn kết. Ḷng dân là
yếu tố quyết định trong mọi công cuộc
chiến đấu.. Bài thuyết tŕnh
giá trị, cộng thêm cách diển giảng hùng hồn, đă
thu hút cử tọa. Chúng
tôi phổ biến trong trong số báo này.
Bốn
giờ:
Phần Hội thảo kéo dài đến 5 giờ 30. BS Mă
Xái (Florida), Đại sứ Bùi Diễm (Washington DC),
Tiến Sĩ Lê Minh Nguyên (Nam Cali), Dân biểu Nguyễn
Đức Cung (New Jersey) và nhà
báo Lê Văn (Houston), nêu ra 2 câu hỏi:
-Chúng ta nghĩ ǵ, làm ǵ
để chống lại chủ trương bá quyền
của Trung Cộng.
-Hướng đi tương
lai của chúng ta như thế nào?
Chủ tọa đoàn thay phiên
nhau tŕnh bày các sự việc chính trị xảy ra trên
nội bộ chính trừờng của Trung Quốc,
của Hoa Kỳ, liên quan đến VN hiện nay và chánh
quyền CS VN hiện nay đang ở con đường:
đi với Tàu để cứu đảng nhưng
mất nước, đi với Hoa Kỳ th́ mất
đảng nhưng cứu nước. Chủ tọa
đoàn cũng nêu lên
những nhận định rất chi tiết
về nội t́nh của Trung Quốc, của Hoa Kỳ và
của VN:
Có nhiều câu hỏi của:
phu quân của NS Chu Mỹ Dung (Liên danh Gió Mới), ông Hoàng
Bách (đài Tiếng Nước Tôi), ông Nguyễn Quốc
Cường (Báo Ngày Nay), bà Hoàng Minh Thúy (báo Xây Dựng), NS
Chu Mỹ Dung . . v.v.
Tóm lại, người dân hải
ngọai bây giờ không c̣n cầm súng được, th́
mỗi người phải góp một bàn tay, tùy theo khả
năng, tạo nên dư luận Quốc Tế, v́ Trung
Quốc sẽ không dám ngang nhiên xâm chiếm VN..
-Ngướ dân cân phải kiên
nhẫn trong sự đấu tranh.
-Về các thành viên trong
đảng phái , làm sao tạo
được sự cảm thông gĩữa đảng
phái và dân chúng trong cộng đồng, mới đạt
hiệu qủa.
-Người dân đừng
đ̣i hoỉ nơi đảng phái quá nhiều. Họ cũng gặp nhiều khó khăn, không có
tài trợ, sinh họat bằng tiền túi.
-Phải có đồng bào
quốc nội dựa vào tinh thần dân tộc, ái quốc
đứng lên làm Cách mạng
****
Chương tŕnh
hội thảo chấm dứt lúc 5 giờ ba mươi,
cựu Đại Sứ Bùi Diễm (88 tuổi) chân thành cám
ơn quí vị có mặt để hội luận về
một đề tài rất khô khan, trong buổi chiều
cuối tuần rất đẹp. Rất mong tương lai
anh em Đại Việt sẽ có cơ hội được
dịp tiếp xúc.
Buổi sinh họat chính trị
này rất giá trị và bổ ích cho những ai nặng ḷng ưu
tư về cố quốc, tiếc là trong cộng đồng
đang có sự phân hóa của việc tranh cử vào
chức vụ Đại Diện của Cộng Đồng NVQG
nên không đông đảo khán giả như mong muốn.
Giữa các tiết mục khô
khan này, có những màn văn nghệ xen giữa
chương tŕnh do ca sĩ Mimi, ca sĩ Quang Vinh và one man
band Quốc Tuấn./.
Phóng viên Xây Dựng
KINH
NGHIỆM SỐNG C̉N CỦA DÂN TỘC
QUA BÀI HỌC LỊCH SỬ *
Nguyễn Đức Cung
Cách đây hơn 20 thế kỷ,
Marcus Tullius Cicero (106-43 trước CN), một nhà hùng
biện kiêm chính khách cổ La Mă, có nói một câu đáng
lưu ư: Lịch sử là
thầy dạy của cuộc đời. (Historia
magistra vitae). Câu nói này là một nhắc
nhở thường xuyên cho nhân loại nhất là
đối với những ai dấn thân phục vụ lư
tưởng đời ḿnh trong một đoàn thể chính
trị quốc gia. Câu nói có một giá
trị tổng quát và trường cửu có thể áp
dụng cho nhiều người, nhiều thế hệ,
trong mọi nơi và ở bất cứ thời đại
nào. Đối với những ai hằng suy tư
đến sự sống c̣n của một dân tộc,
một đất nước th́ lịch sử cung cấp
nhiều bài học về lẽ hưng vong, suy thịnh
để rút ra từ đó đường lối hành
xử khôn ngoan đưa đến sự thắng
lợi, trường tồn vinh quang hay cũng dẫn vào
con đường bại hoại, thê lương và
hủy diệt.
Trong những năm gần đây,
khi nhà cầm quyền Cộng Sản tại Việt Nam
đă có nhiều hành động đi ngược lại
quyền lợi tối thiêng của đất nước
như để mất nhiều đất đai trên bộ
và dưới biển vào tay của Trung Quốc, cho TQ
tự do khai thác bô-xít ở Tây Nguyên, cho thuê đất
trồng rừng ở các tỉnh Miền Bắc, nhắm
mắt làm ngơ trước những hành vi sách nhiễu,
đàn áp ngư dân Việt Nam ở Biển Đông, mọi
người trong nước cững như hải
ngoại đă lên tiếng phản đối bạo
quyền CS và báo động về sự sống c̣n
của dân tộc trước hiểm họa Bắc
Phương. Việt Nam c̣n có thể đứng vững
được không ? Những người vốn ưu
thời mẫn thế thường nêu câu hỏi như
vậy, và nếu câu trả lời là có th́ nhân tố nào
khiến cho đất nước VN đứng vững
qua trường kỳ lịch sử ?
Rồi nữa, trước các thách đố của băo táp
lịch sử như hiện nay, khả năng của
một chủ nghĩa chính trị như chủ nghĩa
Dân Tộc Sinh Tồn liệu c̣n có được những
đáp ứng thích đáng cho t́nh thế mới của
đất nước hay không?
1.- Đi t́m nhân tố
căn bản trong các cuộc vận hành của lịch
sử đất nước.
Trong cuốn hồi kư Sống C̣n
Với Dân Tộc, tác giả Hà Thúc Kư đă khẳng
định: Con đường chông gai chúng
ta đă đi từ mấy chục năm qua, kế
tục truyền thống cách mạng của cố
Đảng Trưởng Ttrương Tử Anh, là con đường
chính nghĩa.[1]
Con đường chính nghĩa này tất nhiên
phải được xây đắp bằng một
hệ tư tưởng mang đậm tính dân tộc
chứng minh qua từng trang lịch sử của dân
tộc Việt
Cũng chính lúc này
đây, khi mà sinh mệnh của một dân tộc đang
ở trong t́nh trạng sợi tóc treo ngh́n cân, chúng
ta mới thấy được căn bản vận hành
của lịch sử dân tộc và viễn kiến khả
thi của một chủ nghĩa chính trị do Đảng
Trưởng Trương Tử Anh đề ra mà bất
cứ anh chị em đảng viên Đại Việt dù
thuộc hệ phái nào cũng nghe được tiếng
vọng từ trong tâm thức, hănh diện với con
đường đă đi nhưng cũng trăn trở
lo toan trước những t́nh huống phức tạp
hiện tại từ nhận thức tư tưởng
đến phương pháp đấu tranh của một
Việt Nam đang bồng bềnh trôi nổi giữa các
thế chiến lược của hai đại
cường Hoa Kỳ và Trung Cộng.
Đọc lại
lịch sử của bất cứ một quốc gia nào,
ai cũng thấy rằng thành phần nhân dân là yếu
tố then chốt trong việc h́nh thành và vận hành
lịch sử một đất nước. Sự
quan trọng của mọi tầng lớp nhân dân
đọ sức với cỗ máy thời gian phản ánh
rơ nét trong câu nói mang tính Việt
Các quốc gia Tây
phương cũng như Đông phương đều
đề cao ư kiến của người dân và coi đó là
ư của Thượng Đế bởi vậy cho nên mới có
câu Ư dân là ư Trời (Vox populi, vox Dei).
Dưới thời nhà Lư, trong bài
Chiếu dời đô
vào tháng 7 năm Canh Tuất (1010), Lư Thái Tổ
(974-1028) có viết rằng: Ngày xưa, nhà Thương
đến đời Bàn Canh năm lần dời đô,
nhà Chu đến Thành vương ba lần dời đô, há
phải các vua thời Tam đại ấy theo ư riêng tự
dời đô xằng bậy đâu. Làm như thế
cốt để mưu nghiệp lớn, chọn ở
chỗ giữa, làm kế cho con cháu muôn vạn đời,
trên kính mệnh trời, dưới theo
ư dân, nếu có chỗ tiện th́ dời đổi, cho nên
vận nước lâu dài, phong tục giàu thịnh...
[2]
Lư
Thánh Tông (1023-1072) là một ông vua nhân từ có tiếng trong
lịch sử Việt
Trong giai đoạn nhà Trần, khi
vua Trần Thái Tông (1218-1277) lên núi, định bỏ ngai
vàng đi tu, dân chúng và triều đ́nh muốn vua trở
lại, Trúc Lâm Quốc Sư đă nói với vua rằng:
Đă làm vua th́ không c̣n có thể theo ư thích riêng ḿnh
được nữa. Phải lấy ư
muốn của dân làm ư muốn của ḿnh, phải lấy
ḷng dân làm ḷng của ḿnh. Nay dân đă muốn vua
về th́ vua không về làm sao được. [5]
Trong cuộc kháng chiến chống
Nguyên Mông lần thứ hai, sau hội nghị B́nh Than,
Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn công
bố bài Hịch t́ tướng để khích động
tinh thần yêu nước của tướng sĩ. Qua tác phẩm Cuộc kháng
chiến chống xâm lược Nguyên Mông thế kỷ
XIII, các tác giả Hà Văn Tấn & Phạm Thị Tâm
viết: Nhưng tinh thần quyết tâm chống
giặc nếu chỉ hạn chế trong những
người lănh đạo, trong vương hầu bách
quan, trong tướng lĩnh và chiến sĩ th́ hoàn toàn
chưa đủ. Muốn chiến thắng
được quân khổng lồ và thiện chiến
của Thoát Hoan và A-ric Kha-y-a, cần có sự tham gia
chống giặc của toàn thể nhân dân. Vương triều Trần đă nhận
thức được vai tṛ của nhân dân qua cuộc kháng
chiến lần thứ nhất năm 1258. Cho đến nay, trước một cuộc
chiến tranh mới, vương triều Trần đă t́m
đến sự ủng hộ của nhân dân. Vào tháng chạp năm Giáp Thân niên hiệu Thiệu
Bảo thứ 6 (1285), Thượng hoàng Thánh Tông đă
triệu tập phụ lăo trong nước về kinh đô
Thăng Long, đặt tiệc ở thềm điện
Diên Hồng, hỏi kế đánh giặc. Trả lời cho câu hỏi của vua Trần là
nên đánh hay không, các phụ lăo đă đồng thanh hô
Đánh, vạn người cùng nói như từ
một miệng. [6]
Hưng Đạo
Vương làm quan đến đời vua Anh-Tông th́ xin
về trí sĩ ở Vạn Kiếp. Khi ngài sắp
mất, vua Anh-Tông có ngự giá đến thăm, nhận
thấy ngài bệnh nặng, mới hỏi rằng:
Thượng-phụ một mai khuất núi, phỏng có
quân bắc lại sang th́ làm thế nào? Hưng
Đạo Vương trả lời: Ta nên kén dùng
tướng giỏi, liệu xem quyền biến, ví như
đánh cờ, phải tùy cơ mà ứng biến, dùng binh
phải đồng ḷng như cha con một nhà, th́ mới
có thể đánh được. Cách ấy cốt
phải tự lúc b́nh th́ khoan sức cho dân, để làm
kế sâu rễ bền gốc, đó là cái thuật giữ
nước hay hơn cả. [7] Theo quan điểm Nho
Giáo việc cướp ngôi vua hay làm việc soán
đoạt ngai vàng là một trọng tội. Trong thời
Nhuận Hồ, Hồ Qúy Ly sau khi cướp ngôi nhà
Trần ba năm đă muốn nhường ngôi lại cho
con thứ là Hán Thương. Hán Thương và em là Nguyên
Trừng có mẹ là Huy Ninh công chúa, là con gái Trần Minh Tông.
Trước kia Quư Ly vẫn có ư muốn lập Hán
Thương nối ngôi nhưng chưa quả quyết, bèn
ngụ ư vào cái nghiên đá, ra một câu đối cho Nguyên
Trừng đối lại, để ḍ xét khí khái Nguyên
Trừng: Thử nhất
quyền kỳ thạch, hữu thời vi vân, vi
vũ, dĩ nhuận sinh dân. (Viên đá nhỏ bằng
nắm tay, có lúc làm mây, làm mưa,
để thấm nhuần cho nhân dân). Nguyên Trừng
đối lại: Giá tam thốn tiểu tùng, tha
nhật tác đống, tác lương, dĩ phù xă
tắc (Cây thông nhỏ chừng ba tấc, sau này làm
cột, làm xà, để phù tŕ xă tắc). Ư Hán
Thương nói tài ḿnh chỉ đáng giúp nước, không
đáng làm vua. Quư Ly bèn lập Hán
Thương nối ngôi. Câu đối của Quư Ly có
mấy chữ dĩ nhuận sinh dân cũng nói lên
được tấm ḷng của ông đối với con
dân trong nước nhưng tiếc thay triều đại
của ông quá ngắn trước nạn xâm lăng
của Bắc phương. [8]
Tháng 9 năm ất dậu (1405), Hán
Thương hội họp các quan văn vơ trong kinh thành và
ngoài các lộ bàn về kế hoạch nên đánh hay nên ḥa.
Lúc ấy có người khuyên nên đánh, nói: Không nên
để quân Minh kéo vào nước sẽ làm mối lo sau
này.Nguyễn Quân, trấn phủ Bắc Giang, cho
rằng hăy nên tạm ḥa, chiều theo ư
muốn bên địch, để hoăn binh th́ hơn. Tả
Tướng quốc là Trừng nói: Tôi không sợ
đánh, chỉ sợ ḷng dân có theo hay
không theo mà thôi. Quư Ly đem cái hộp bằng vàng ban cho
Trừng. [9]
Tháng giêng năm ất tị (1425),
khi B́nh Định Vương Lê Lợi đem binh về
đánh thành Nghệ An, đi đến
làng Đa-lôi ở huyện Thổ-du (bây giờ là huyện
Thanh chương) dân chúng đưa trâu đưa
rượu ra đón rước, già trẻ đều nói
rằng: Không ngờ ngày nay lại thấy uy nghi
nước cũ. Vương bèn xuống lệnh
rằng: Dân ta lâu nay đă phải khổ sở về
chính trị bạo ngược của người Tàu, quân
ta đi đến đâu cấm không được xâm phạm đến
chút ǵ của ai. Những gạo thóc trâu ḅ mà không phải là
của người nhà Minh th́ không được
lấy.[10]
Trong bài B́nh Ngô Đại Cáo, Nguyễn
Trải đă viết thay Lê Lợi nhắc đến t́nh
trạng người dân trong cơn quốc biến: V́
họ Hồ chính sự phiền hà, để trong
nước nhân dân oán bạn. Quân cuồng Minh
đă thừa cơ tứ ngược, bọn gian tà c̣n bán
nước cầu vinh. Nướng dân đen trên
ngọn lửa hung tàn, vùi con đỏ xuống
dưới hầm tai vạ. [11]
Ở một đoạn khác của bài hịch này,
Nguyễn Trải ca tụng tinh thần thương yêu
giữa tướng sĩ, ba quân tất cả đều
xuất thân từ quần chúng nhân dân: Múa đầu
gậy, ngọn cờ phấp phới, ngóng vân nghê bốn
cơi đan hồ. Mở tiệc quân, chén rượu
ngọt ngào, khắp tướng sĩ một ḷng phụ
tử. [12]
Trong trận ra Bắc phá giặc
Thanh năm kỷ dậu (1789), Quang Trung sau khi quét sạch
giặc Thanh, đă bắt được tờ
mật-dụ của vua Càn-Long, thấy được ư
đồ lâu dài của Trung Hoa, nên đem tờ
mật-dụ đó bảo với Ngô Th́ Nhậm rằng:
Ta xem tờ chiếu của vua nhà Thanh chẳng qua
cũng muốn mượn tiếng để lấy
nước ta đó thôi. Nay đă bị ta
đánh thua một trận, tất là lấy làm xấu
hổ, chắc không chịu ở yên. Hai
nước mà đánh nhau th́ chỉ khổ dân. Vậy
nên dùng lời nói khéo, để khiến cho khỏi sự
binh đao; việc ấy nhờ nhà ngươi chủ
trương cho mới được.[13]
Đọc
đoạn văn này mới thấy sự khôn ngoan của
người cầm quyền, biết ứng xử trong
hoàn cảnh chính trị phức tạp.
Ư thức chính trị dưới
thời phong kiến chắc hẳn mang đậm đà
ảnh hưởng của Mạnh Tử khi ông nói
rằng: Dân vi quư, xă tắc thứ chi, quân vi khinh,
đă truyền đạt chân lư đó về sau cho
đến đầu thế kỷ XX vẫn có
người viết trong tác phẩm Diên Lộc Quận Công
Đại Sự Kư những câu như sau:
Vả lại dân mới là cái gốc của
nước, gốc vững th́ nước yên, vậy
nước trị vốn lấy việc được
dân làm gốc, sai khiến dân đúng lúc th́ dân yên ổn
với cái sinh thú của họ. Dân có cơ chế
sẽ yên với nghề nghiệp của ḿnh, đă yên
lại vui ắt đều mới biết đến cái
ơn đức của quốc gia, thân mới người
trên mà chết v́ người lớn của ḿnh, cho dầu
có bị kẻ ngoài dụ dỗ cũng không bị chao
đảo v́ bên ngoài; hoặc lấy cái không thể thay
đổi làm điều dựa cậy mà chẳng
phải lo lắng ǵ cả th́ cái đó tức là dân
vậy. [14]
Người dân Việt
Gạn đục khơi trong
một số tư liệu dẫn ra trên đây để
thấy rằng dù được dẫn dắc bởi các
bậc vua quan thời phong kiến hay bởi hàng ngũ
tầng lớp văn thân nho sĩ, quần chúng nhân dân
vẫn là động lực chính của bánh xe lịch
sử và là nhân tố tích cực xây dựng đất
nước. Bỏ dân, xa ĺa dân, thậm chí
trở lại đàn áp dân chính là giơ chân đạp vào
mũi chông dựng ngược, là tự đào hố chôn
ḿnh.
Cách đây hơn hai ngh́n năm,
Mạnh Tử đă nói: Vua coi dân như tay
chân, th́ dân coi vua như ḷng ruột. Vua coi dân như cỏ
rác th́ dân coi vua như kẻ thù. Vị á thánh của
Khổng giáo này c̣n nói một câu khác như là lời cảnh
cáo bọn độc tài : Một khi dân không sợ
chết th́ đừng lấy cái chết dọa dân.
Cố Tổng Thống Ngô Đ́nh
Diệm có nói một câu rất thực tế, nói lên
tấm ḷng thương dân của ḿnh: Không có ǵ quư
hơn nồi cơm của người dân.
Ngày 3-10-2010, Ôn Gia Bảo, Thủ
Tướng Trung Quốc đă nói với kư giả Fareed
Zakaria qua một cuộc phỏng vấn: Chính nhân dân và
sức mạnh của nhân dân sẽ quyết định
tương lai của quốc gia này và lịch sử. Không
ai có thể ngăn cản nổi ước vọng và ư
chí của nhân dân.
Với luận điệu rất
bịp bợm mị dân, trong một bài báo có tên Dân vận
kư dưới bút danh X.Y.Z., được đăng
lại trên Nhật báo Nhân Dân số 20132, ra ngày 15-10-1949),
Hồ Chí Minh viết rằng: Bao nhiêu lợi ích đều
v́ dân. Bao nhiêu quyền hạn đều
của dân. Công việc đổi
mới, xây dựng là trách nhiệm của dân. Sự
nghiệp kháng chiến, kiến quốcx là công việc
của dân... (trích báo Sự Thật
ngày 15-10-1949).
Người Cộng sản TQ hay VN
nói vậy nhưng thực tế họ hành động cách
khác. Họ coi dân là khấu thù như
lời nói của Mạnh Tử.
2.- Chủ nghĩa Dân Tộc Sinh
Tồn: thách đố và đáp ứng cần thiết cho
t́nh h́nh đất nước hiện tại.
Một sử gia nổi tiếng
người Anh, Arnold J. Toynbee trong bộ sử The Study of
History gồm 12 pho xuất bản ở Luân-đôn và
Nữu-ước từ năm 1934 đến 1961 và đăø
được D.C. Somervell tóm lược dưới nhan
đề History, an essay of interpretation đă đưa ra
nhận định rằng: Sự phát triển hay suy
đồi của các nền văn minh bị chi phối
bởi một định luật, định luật
challenge và response, tức là sự đáp ứng
trước những thách đố do môi trường thiên
nhiên hay xă hội đưa đến. Có tiến bộ là
nhờ ở một sự thách đố gây nên một
đáp ứng thành công; sự đáp ứng này lại
tạo nên một thách đố mới mà cần phải
t́m một đáp ứng thỏa đáng khác... [15] Nền văn minh của
một xă hội cũng giống cuộc sống của
một con người nghĩa là cũng có những giai
đoạn lớn lên, phát triển, trưởng thành
rồi hủy diệt. Văn minh của xă
hội là phản ánh cảm thức của con người
qua nhiều phương diện.
Trong
một quốc gia, các tổ chức chính trị (chính
đảng) cũng được xem như những thành
tố của nền văn minh xă hội nên định
luật thách đố và đáp ứng nếu đă đem
lại lời giải đáp về sự tồn tại
hay biến mất của một nền văn minh th́
cũng có thể giải thích lư do tồn tại hay
diệt vong của một chính đảng trong quốc gia
thể hiện qua chủ nghĩa ḿnh theo đuổi.
Vả chăng sinh hoạt của chính đảng là ǵ
nếu không phải là nỗ lực chung
của một tập thể hướng về các mục
tiêu tranh đấu trong một giai đoạn lịch
sử nào đó. Các chủ thuyết chính trị của
một vài chính đảng quốc gia kỳ cựu c̣n
tồn tại ở hải ngoại hay ở trong
nước như Đại Việt hay Việt Quốc có
đáp ứng được những thách đố cam go
của đất nước hay không ?
Chủ
thuyết Dân Tộc Sinh Tồn được thai nghén
từ năm 1936 và công bố năm 1939 vào một thời
điểm mà cái tên Việt Nam đă bị xóa trên bản
đồ Đông Dương và chỉ c̣n có tên là Xứ Đông
Pháp.
Trong bản Tuyên Ngôn Đại Việt
Quốc Dân Đảng năm 1939 có vạch rơ rằng:
Chỉ có ta mới thực sự v́ sự sống c̣n,
v́ hạnh phúc của ta mà thôi. Ỷ lại vào
người, tin vào người là dắt nhau vào con
đường diệt vong. [16] Đây là một nguyên lư
tuyệt đối trong ứng xử mà bất kỳ
thời đại nào, bất cứ không gian nào cũng
đều được tuân theo. Không ai lo cho sự sống c̣n của ta cho bằng
chính bản thân ta. Không ai t́m kiếm
hạnh phúc cho ta nếu ḿnh không tự t́m lấy. Khi
mạng sống của một con người bị đe
dọa, khi vận mệnh của một dân tộc bị
thử thách th́ con ngươi đó, dân tộc đó
phải tự đấu tranh để khỏi bị
đe dọa, phải tự t́m kiếm con đường
ra khỏi cuộc thử thách.
Năm 1558,
trước âm mưu đe dọa thanh toán của anh
rể là Trịnh Kiểm, Nguyễn Hoàng đă cho
người ra Hải Dương vấn kế Nguyễn
Bỉnh Khiêm và cụ Trạng Tŕnh đă chỉ cho
Nguyễn Hoàng một con đường để sống
c̣n đó là Hoành Sơn nhất đái vạn
đại dung thân. Nguyễn Hoàng đă quyết tâm t́m
vào Đàng Trong để xây dựng cho ḿnh một sự
nghiệp vĩ đại không ai sánh
được trong lịch sử.
Châm ngôn của phương Tây có câu:
Anh hăy tự giúp ḿnh đi rồi Trời sẽ giúp sau(Aide-toi, le Ciel t'aidera) và tư
tưởng này có khả năng đánh đổ tính
ỷ lại hay thói quen dựa cậy vào người khác
khiến cho con người mất sáng kiến cá nhân và v́
vậy mất luôn cả ư thức tự do hành động
hay xử trí công việc.
Nói đến tính ỷ lại vào
người hay tin vào người thật ra cũng bao hàm
nhiều lănh vực thí dụ tiền bạc, tư
tưởng, sáng kiến v.v...
Về tiền bạc, tính ỷ
lại hay mánh khóe khai thác vốn là sở trường
của Nguyễn Ái Quốc trong những năm của
thập niên 20 thế kỷ trước khi ông nhận
tiền lương của Đảng Cộng Sản Pháp, và
khi trở thành nhân viên của Đệ Tam Quốc Tế làm
việc cho Đông Phương Bộ của Liên Xô hoạt
động tại Trung Quốc.
Trong bài viết có tên Cái đúng và cái
giả dối về chuyện Hồ Chí Minh đăng
trong tác phẩm Hồ Chí Minh, Sự thật về Thân
thế & Sự Nghiệp, tac giả Tôn Thất Thiện
cho biết trong chuyến đi từ Pháp qua Mạc Tư
Khoa năm 1923, Hồ Chí Minh đă nhận của
đảng Cộng Sản Pháp 1.000 quan để chi phí. Vào thời đó là một số tiền lớn
(một sinh viên có thể sống trong năm tháng.
Ở Đức nó lại càng trở nên lớn hơn v́
lạm phát nhảy vọt hoành hành nước này.[17]
Trong tác phẩm Hồ Chí Minh tại Trung Quốc, nhà sử
học Tưởng Vĩnh Kính cho biết sự tài trợ
của Cộng Sản Quốc Tế với Hồ Chí Minh
như sau: Rồi đến tháng 10 năm ấy
(tức năm 1930), trong đại hội đại
biểu kỳ I được cử hành tại
Hương Cảng, tên đảng lại được
đổi thành Đảng Cộng Sản Đông Dương.
Cơ sở tổng bộ được dời về
quốc nội. Bí thư đầu tiên
của đảng là Trần Phú (bí danh Lí Quí), người đă
từng được huấn luyện ở Nga. Tháng 4,
1931, Trần Phú bị nhà đương cuộc
Pháp-Việt bắt tại Sài G̣n, và đă chết trong tù.
Lúc này, đảng ấy mới chính thức gia nhập
Cộng Sản Quốc Tế, mỗi tháng nhận
được 5.000 quan Pháp (tương đương
1.250 Mĩ kim) tiền trợ cấp. [18] Nhận
tiền của đảng Cộng sản Pháp, ngân
khoản của đảng Cộng sản Liên Xô tức
phải làm việc cho các tổ chức này. Họ Hồ có
phương tiện sinh sống và đi nơi này nơi
khác mà không phải lo toan về sinh kế nên trở thành
công cụ của CS Pháp hay Mạc Tư Khoa trong khi các nhà
cách mạng Việt Nam như Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh,
Nguyễn Hải Thần, Đăïng Tử Kính, các thanh niên
trong tổ chức Tâm Tâm Xă v.v... phải
lao đao vất vả mới sống được.
Về tư tưởng, Hồ Chí
Minh cũng hoàn toàn ỷ lại vào Quốc Tế Cộng
Sản. Trong Đại Hội 2 đảng CSVN tổ chức
vào tháng 2 năm 1951 tại Tuyên Quang với đảng danh
mới là đảng Lao Động Việt Nam, Hồ chí Minh
tuyên bố: Về lư luận, đảng Lao Động
Việt Nam theo chủ nghĩa Mác-Lênin... lấy tư
tưởng Mao Trạch Đông làm kim chỉ nam. Ông Hồ
đă nhiều lần tuyên bố với mọi
người rằng: Không, tôi không có tư tưởng
nào ngoài chủ nghĩa Mác-Lênin. V́ tin tưởng các nhà
lănh đạo Liên Xô, Trung Quốc một cách cuồng tín,
không dám đưa ra một lời phê phán nào, từ đó
mất tính sáng tạo, thui chột tư duy, họ Hồ
từng nói: Ai đó th́ có thể sai, chứ các
đồng chí Stalin và Mao Trạch Đông th́ không thể nào sai
lầm được.
Về phương thức hành
động, tổ chức và kinh nghiệm, Hồ Chí Minh
vay mượn hoàn toàn của Quốc tế vô sản,
bất chấp các hệ quả tai hại cho dân tộc và
đất nước thí dụ việc cướp chính
quyền năm 1945 và thanh toán các tổ chức chính trị
đối lập, cuộc cải cách ruộng đất
1953-56, bỏ tù các thành phần dân, quân, cán, chính VNCH năm
1975, loại trừ MTGPMN, tiêu diệt và đàn áp các tôn giáo
v.v...
Bằng một cái nh́n khái quát,
chủ nghĩa Dân Tộc Sinh Tồn có thể
được biểu trưng qua một tam đoạn
luận như sau:
1.-Muốn sống c̣n phải tranh
đấu;
2.-Muốn tranh đấu phải có
sức mạnh;
3.-Muốn có
sức mạnh phải đoàn kết.
Với những quan điểm dung
dị đó, chủ nghĩa Dân Tộc Sinh Tồn đưa
ra tiêu đề thứ nhất của tam đoạn
luận, đó là Muốn sống c̣n phải tranh
đấu bởi v́ trường đời là một
cuộc tranh đấu hay rơ hơn Sống là tranh
đấu (Vivre c'est lutter). Có tranh
đấu th́ cuộc sống mới có ư nghĩa.
Tiền bạc do ḿnh làm ra, do đầu
óc hoặc tay chân mang lại chắc chắn có giá trị
hơn tiền bạc bất ngờ nhặt
được, tham nhũng, ăn cắp hay xin xỏ
người khác. Tranh đấu để vượt lên
tính ỷ lại, lười biếng, sân si, là một hành
động tự giác, là hành vi
vượt lên cái tôi nặng nề, đờ đẫn
v́ cảnh phù trầm của lợi danh. Miệng
đói th́ đầu gối phải ḅ, tay làm hàm nhailà những câu nói mang tính
thực tế nhưng rất Việt
Với tiêu đề muốn
tranh đấu phải có sức mạnh, chủ
nghĩa đưa ta đến nội dung thứ hai
của tam đoạn luận mà ư nghĩa cốt lơi
nằm trong hai chữ sức mạnh. Theo
triết lư nhị nguyên, dĩ nhiên ai cũng biết con
người gồm có xác và hồn th́ sức mạnh
cũng bao hàm hai thể loại vật chất và tinh
thần. Sức mạnh của tư
tưởng, ng̣i bút chắc chắn phải khác với
sức mạnh của cái cuốc hay bắp cày.
Chẳng
tham ruộng cả ao liền,
Tham
v́ cái bút, cái nghiên anh đồ.
Các phẩm trật chức vị
trong triều đ́nh phong kiến ngày xưa cũng
khiến người ta làm cuộc so sánh giữa văn quan
và vơ tướng tượng trưng cho hai lĩnh vực
của cuộc sống;
Quan
văn tứ phẩm đă sang,
Quan
vơ nhị
phẩm phải mang gươm hầu.
Bởi vậy, có cách biệt là có
ghen ghét, tị hiềm:
Trâu
buộc th́ ghét trâu ăn,
Quan vơ th́ ghét quan văn dài quần.
Nhưng Mao Trạch Đông lại có
một câu nói hết sức tàn nhẫn phũ phàng: Trí thức không bằng cục
phân.sau khi phong trào Bách hoa giai
phóng, bách gia tề minh.kêu gọi
tầng lớp trí thức Trung Quốc góp ư với nhà
nước đảng bị dẹp tan. [19] Tuy vậy,
cũng có người đưa ra quan điểm: Ng̣i
bút mạnh hơn lưỡi gươm hay là
Sức mạnh của một ng̣i bút có khi c̣n hơn
cả một sư đoàn.
Câu nói của Tây phương ngày
xưa Một tinh thần minh mẫn trong một thân
xác tráng kiện(Mens
Tiếp theo, tiêu đề
muốn có sức mạnh phải đoàn kết
trong tam đoạn luận của chủ nghĩa nêu ra
một yêu cầu cao độ, một điều kiện
tối cần mà một câu tục dao pháp lư của
tiếng La Tinh nói rằng : không có
cái này th́ không có cái kia (sine qua non).
Một cây làm chẳng nên non,
Ba cây chụm
lại nên ḥn núi cao.
Người Mỹ có câu: United
we stand (Hợp quần chúng ta mới đứng
vững được). Lịch sử
nước ta có biết bao trường hợp minh
chứng sức đoàn kết của toàn dân đem lại
chiến thắng cho đất nước mà ở
phần trên chúng ta đă dẫn ra. Câu
chuyện bó đũa trong cổ tích Việt
Vào thời điểm năm 1936 là
lúc chế độ thực dân Pháp c̣n tṛng ách đô hộ
trên toàn lănh thổ Đông Dương, bản Tuyên Ngôn 1939
đă đưa ra được đường lối
đấu tranh mà tính cách hữu dụng của nó
đến nay cũng thấy c̣n có thể thực thi
được như sau: Hiện thời vấn
đề cấp bách mà chúng ta phải giải quyết ngay
là sự giải phóng cho dân tộc ta cả về mặt
h́nh thức lẫn tinh thần cái ách ngoại tộc đè
nén. Muốn đến đích, chúng ta không thể noi theo con đường nào khác là làm cho phát
triển đến cực độ cái tinh thần
quốc gia sẵn có rễ sâu cội chắc ở trong
thâm tâm mọi người.
Giải phóng dân tộc về
mặt h́nh thức, như bản Tuyên Ngôn vạch ra, đó
là giải phóng khỏi chế độ thực dân Pháp ngày
xưa mà ngày nay là loại trừ những thành phần trong
đảng và nhà nước CSVN theo TQ, làm tay sai cho TQ,
sẵn sàng cúi đầu trước ngoại bang.
Giải phóng dân tộc về
mặt tinh thần, như bản Tuyên Ngôn vạch ra, đó
là giải phóng toàn bộ đời sống xă hội,
văn hóa VN khỏi nền văn hóa Trung Cộng, một
nền văn hóa tàn độc đă thay đổi nội
dung kể từ khi đảng CSTQ của Mao Trạch Đông
lên cầm quyền tại Hoa Lục năm 1949 cho
đến thời đại của tập đoàn Hồ
Cẩm Đào - Ôân gia Bảo hiện nay, một nền văn
hóa coi đồng bào, đồng loại như súc vật,
bởi v́ họ Mao đă từng là thủ phạm giết
chết hơn 70 triệu đồng bào của y trong
mấy chục năm Mao cầm quyền ở TQ không chút
xót thương.
Chủ Nghĩa
DTST không phải là một chủ nghĩa Dân Tộc cực
đoan như trường hợp Việt
Ngoài ra các định luật
của chủ nghĩa DTST như cạnh tranh sinh tồn và
hỗ tương sinh tồn cùng xu hướng biến
cải có khả năng đưa ra những đáp
ứng thích đáng trước những thách đố
của t́nh h́nh đất nước hiện tại thí
dụ trước sức ép của ngoại bang th́ dựa
vào sức mạnh của toàn dân để làm một
đối trọng (contre-poids) phản ứng lại
(Cạnh tranh sinh tồn), liên kết các thế lực
đồng minh bên ngoài để hóa giải sức ép
của đối phương (Hỗ tương sinh
tồn). Xu hướng biến cải
của chủ nghĩa DTST là một kho vô tận các kế
hoạch gồm chiến lược, chiến thuật
nhằm ứng phó trong mọi hoàn cảnh để vô
hiệu hóa các chiêu thức chính trị, quân sự, kinh
tế của kẻ thù. Vấn
đề quan trọng là những người thực thi
chủ nghĩa có tấm ḷng chân thực với quốc gia
hay không.
Lời kết
Trong bài thơ Người Không
Chết viết về Đảng Trưởng Trương
Tử Anh năm 1950, nhà thơ Đằng Phương
Nguyễn Ngọc Huy đă cô đọng lại mối tâm
cảm của ḿnh về tác giả chủ nghĩa DTST qua
một đôi ḍng xin trích lại xin làm kết từ
của bài viết này như sau:
Kể
từ lúc cả non sông Đại Việt
Đắm
ch́m trong khói lửa ngập lưng trời
V́
bàn tay đẫm máu của lũ
người
Vô
tổ-quốc và của loài xâm-lược
Anh
đă vội băng ḿnh lên phía trước
Để
đàn em chậm chạp bước lần theo.
Bóng
dáng Anh bỗng khuất dưới sương chiều
Và
mất hút, không c̣n ai được thấy;
Nhưng
đường lối Anh đi c̣n lại đấy,
Bọn
chúng tôi theo măi quyết không lùi
V́
trong tim, trong cân-năo chúng tôi,
Cây
Sinh-tồn đă đâm chồi nảy nhánh
Tung
những hạt giống đầy mầm sống
mạnh
Gieo khắp nơi trên dải
nước non này.
Đời
Anh đang sống với chúng tôi đây,
Nó sẽ sống với lớp
người sẽ tới.
[22]
Nguyễn
Đức Cung
· (Bài
nói chuyện trong buổi ra mắt tác phẩm Sống C̣n
Với Dân Tộc, tác giả Hà Thúc Kư (1920-2008) do Đại
Việt Cách Mạng Đảng và Đảng Tân Đại Việt
tổ chức tại Houston, Texas, Hoa Kỳ ngày 31-10-2010).
CHÚ THÍCH:
1.-Hà Thúc Kư,
Sống C̣n Với Dân Tộc, Phương Nghi ấn hành
2009, trang 369.
2.- Đại Việt
Sử Kư Toàn Thư, Tập I, Nxb. Khoa
Học Xă Hội, 1998, trang 241.
3.- Đại
Việt Sử Kư Toàn Thư, quyển III, tờ 1 b, bản
dịch của Viện Khoa Học Xă Hội Việt Nam,
Nxb. Khoa Học Xă Hội, Hà Nội 1998, trang 270.
4.- Đại
Việt Sử Kư Toàn Thư, Sđd, trang 276.
5.- Toàn Thư,
Sđd; Lữ Giang, Những bí ẩn đàng sau các cuộc
thánh chiến tại Việt Nam, 1994, trang 54.
6.- Toàn thư,
q.5, t. 44a; Hà Văn Tấn & Phạm Thị Tâm, Cuộc
kháng chiến chống xâm lược Nguyên Mông thế
kỷ XIII, Nxb. Quân Đội Nhân Dân, Hà Nội 2003, trang 197.
7.- Trần
Trọng Kim, Việt Nam Sử Lược, Nxb. Tân Việt,
bản in lần thứ bảy, Sài G̣n, 1964, trang 161.
8.- Quốc
sử quán triều Nguyễn, Khâm Định Việt Sử
Thông Giám Cương Mục, Tập một, Nxb. Giáo Dục, 1998,
trang 709.
9.- Cương
Mục, Sđd, trang 723.
10.- Trần
Trọng Kim, Sđd, trang 210.
11.-Trần Trọng Kim, Sđd, trang
229.
12.- Trần
trọng Kim, Sđd, trang 230.
13.- Trần
Trọng Kim, Sđd, trang 375.
14.- Nguyễn
Đức Cung, Diên-Lộc Quận-Công Nguyễn Thân, Nxb.
Nhật-Lệ, 2002, trang 8.
15.- Nguyễn
Thế Anh, Nhập môn phương pháp sử học, Sài G̣n
1974, trang 18.
16.- Tuyên Ngôn
Đại Việt Quốc Dân Đảng 1939, bản in tại Ha
Kỳ tháng 11-1985, trang 12.
17.- Nhiều tác
giả, Hồ Chí Minh, Sự thật về Thân thế & Sự nghiệp, Nxb. Nam Á
[Sudasie],
18.- Tưởng Vĩnh Kính, Hồ
Chí Minh tại Trung Quốc, (nguyên bản có tên Nhất cá
Việt Nam dân tộc chủ nghĩa đích ngụyy trang
giả), Thượng Huyền dịch, Nxb. Văn Nghệ,
1999, trang 110.
19.- Ngô Vĩnh
Long, Đàn áp để ổn định và phát triển: Mô
h́nh Trung Quốc, Báo điện tử Thời Đại
Mới, số 16, Tháng 7/2009.
20.- Bùi Diễm,
Gọng ḱm của lịch sử, Cơ sở xuất
bản Phạm Quang Khai, 2000, trang 142.
21.- Thân Tứ Long, Qua diễn
biến của chủ nghĩa dân tộc cận
đại Việt Nam đến nay, nh́n nhận tác
dụng hai chiều của chủ nghĩa dân tộc, Hồng
Tuấn dịch, Báo điện tử Talawas, số mùa Thu
2009, chuyên đề “Bao nhiêu chủ nghĩa dân tộc là
đủ?”
22.- Đằng
Phương, Thi tập Hồn Việt, tác giả xuất
bản, bản in ở hải ngoại, do GS. Hoài Sơn Ung Ngọc Nghĩa cung cấp.