ĐẾ QUỐC BẮC PHƯƠNG THÔN TÍNH
BIỂN ĐÔNG,
ĐẠI
HÁN TRÊN ĐƯỜNG SUY THOÁI
Luật Sư
Nguyễn Hữu Thống , May 24, 2009
Trở Về Với Nhân
Loại Văn Minh?
Ngày 13-5-2009 là thời hạn cuối cùng cho các quốc gia
duyên hải đăng kư đơn yêu cầu Ủy Ban Phân
Ranh Thềm Lục Địa Liên Hiệp Quốc cho
mở rộng thềm lục địa từ 200 hải
lư đến mức 350 hải lư. Đến ngày đó có
hơn 50 quốc gia hội viên Liên Hiệp Quốc đă
đệ đơn thỉnh nguyện (submission) , hoặc
từng phần hoặc toàn bộ, về việc
định ranh thềm lục địa cho quốc gia
ḿnh.
Sau những tính toán và do dự, vào ngày chót Trung Quốc
đă đệ đơn thỉnh nguyện tại Ủy
Ban Phân Ranh. Đơn nạp chậm nhưng không trễ.
Từ năm 1994 khi Công Ước Liên Hiệp Quốc
về Luật Biển có hiệu lực chấp hành,
Bắc Kinh không bao giờ lư vấn đến Công
Ước mà họ đă kư tại Đại Hội Liên
Hiệp Quốc về Luật Biển Kỳ III năm
1982. Năm 1992, họ tự tiện ban hành Luật
Biển áp dụng riêng cho Trung Quốc, bất chấp các
điều khoản và các thủ tục điều
giải và tố tụng quy định trong Công
Ước. Đó là những phương thức ôn ḥa và
đối thoại b́nh đẳng áp dụng cho các
quốc gia văn minh trên thế giới dầu có gia
nhập Công Ước hay không. Đối với các
quốc gia không kư Công Ước Luật Biển, các quy
luật cố định của Luật Tục Lệ
Quốc Tế do Ṭa Án Quốc Tế The Hague ban hành vẫn
có giá trị toàn cầu. Ba nguyên lư căn bản trong
Hiến Chương Liên Hiệp Quốc, Ḥa B́nh, Hữu
Nghị và Công Lư, có hiệu lực đối với
tất cả các quốc gia hội viên Liên Hiệp Quốc.
Riêng về Luật Biển các đường lối
giải quyết mâu thuẫn và tranh chấp là ḥa giải,
điều đ́nh và thỏa hiệp. Sau mới nhờ
tới các cơ quan trọng tài và ṭa án về Luật
Biển.
V́ vậy, do hành vi đệ đơn thỉnh nguyện,
Trung Quốc đă minh thị thừa nhận thẩm
quyền của Liên Hiệp Quốc qua Ủy Ban Phân Ranh
Thềm Lục Địa. Mà không thừa nhận sao
được, v́ Trung Quốc vẫn tự hào là một
hội viên thường trực của Hội Đồng
Bảo An có quyền phủ quyết?
V́ đă thừa nhận Công Ước, từ nay Trung
Quốc phải tuân hành Công Ước với những
điều khoản và những phương thức
điều giải và tố tụng nêu trên. Một trong
những phương thức này là không sủ dụng
bạo hành vơ trang.
Dầu sao đây cũng là một bước tiến
đáng kể choTrung Quốc có cơ hội trở về
với nhân loại văn minh.
Mà nếu đă chịu tuân hành Luật Pháp Quốc Tế
và Luật Tục Lệ Quốc Tế th́ từ đây
về sau, Trung Quốc không c̣n được sử
dụng Luật Rừng Xanh của loài cầm thú và loài tôm
cá, với mạnh được yếu thua và cá lớn
nuốt cá bé.
Nh́n lại lịch sử cận kim, trong thập niên 1960,
cuộc Cách Mạng Văn Hóa đă phá nát Trung Quốc
về văn hóa, kinh tế, nhân sự và những giá
trị tinh thần. Qua thập niên 1970 Trung Quốc bắt
đầu phục hồi. Được gia nhập Liên
Hiệp Quốc năm 1971 thay thế Đài Loan, Trung
Quốc trở thành một ngũ cường. Sau khi
thiết lập bang giao với Hoa Kỳ năm 1979, Trung
Quốc hội nhập vào cộng đồng thế
giới. Từ đó, với chính sách “mèo đen mèo
trắng” của Đặng Tiểu B́nh, chủ nghĩa xă
hội độc quyền bị thay thế bởi
chủ nghĩa thực dụng về mặt kinh tế.
Vấn Đề Thềm Lục
Địa
Năm 1982, phái đoàn Trung Quốc đến Montego Bay
Jamaica tham dự Đại Hội Liên Hiệp Quốc
về Luật Biển. Lúc này các cường quốc Anh,
Mỹ không kư Công Ước v́ họ chưa thỏa măn
về quy chế khai thác hải sản tại biển sâu
ngoài vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục
địa của các quốc gia duyên hải. Ba ngũ
cường c̣n lại, Liên Sô, Pháp và Trung Quốc đóng vai
chủ chốt. Tự ái quốc gia được
thỏa măn, Trung Quốc hoan hỷ kư Công Ước. Kư xong
Trung Quốc mới thấy lo. Kư Công Ước th́ phải
theo Công Ước. Những điều khoản Công
Ước lại quá rơ rệt: Các quốc gia duyên hải
chỉ được hưởng quy chế 12 hải lư
Biển Lănh Thổ và 200 hải lư vùng Đặc Quyền
Kinh Tế để đánh cá đồng thời là
Thềm Lục Địa 200 hải lư để thăm ḍ
và khai thác dầu khí.
Tại Biển Nam Hoa hay Biển Đông Nam Á mà người
Việt gọi là Biển Đông, từ các quần
đảo Hoàng Sa và Trường Sa về Hoa Lục có 2
rănh biển sâu tới 2600m trong hải phận Hoàng Sa phía
bắc, và sâu hơn 5000m tại hải phận
Trường Sa phía nam. Theo Ṭa Án Quốc Tế The Hague và
Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển,
v́ đáy biển không phải là sự tiếp nối
tự nhiên của lục địa từ đất
liền ra ngoài biển, Trung Quốc không có triển
vọng đ̣i mở rộng thềm lục địa
pháp lư 200 hải lư thành thềm lục địa
địa chất 350 hải lư tính từ Biển Lănh
Thổ ra khơi.
Trong mọi trường hợp, các hải đảo
Trường Sa nằm quá xa bờ biển Trung Quốc,
(từ 550 hải lư đến 900 hải lư) nên không
thuộc chủ quyền lănh thổ của Trung Quốc.
Vùng biển Hoàng Sa và Trường Sa có triển vọng có
dầu khí do các chất hữu cơ tích lũy trong các
thủy tra thạch (sediment) từ các nguồn nước
phù sa Sông Hồng Hà và Sông Cửu Long, con sông dài nhất
Đông Nam Á, từ cao nguyên Tây Tạng đổ ra
biển. Không có con sông lớn nào từ đảo Hải Nam hay từ Hoa Lục chẩy ra Biển Đông.
Trong khi đó, tại vùng bờ biển Việt Nam,
thềm lục địa địa chất hay nền
lục địa (continental margin) chạy thoai thoải
từ dẫy Trường Sơn ra vùng biển Hoàng Sa phía
đông Quảng Trị, Thừa Thiên, Quảng Nam, Quảng
Ngăi. Độ sâu nhất quanh đảo Hoàng Sa là 900m.
Về mặt địa chất và địa h́nh đáy
biển, các đảo Hoàng Sa là một hành lang của
dẫy Trường Sơn chạy từ Cù Lao Ré ra các
đảo Tri Tôn, Hoàng Sa và Phú Lâm. Đây là những cao nguyên
của thềm lục địa Việt Nam trên mặt biển. Năm 1925 nhà địa chất học
quốc tế, Tiến Sĩ Khoa Học A. Krempt, Giám
Đốc Viện Hải Học Đông Dương, sau
hai năm nghiên cứu về địa chất, đo
đạc và vẽ bản đồ hải đảo và
đáy biển, đă lập phúc tŕnh và kết luận
“Về mặt địa chất những đảo Hoàng
Sa là thành phần của Việt Nam” (Géologiquement les Paracels
font partie du Vietnam).
Tại Trường Sa cũng vậy. Về mặt
địa chất, độ sâu và địa h́nh đáy
biển, các đảo Trường Sa là sự tiếp
nối tự nhiên của lục địa Việt Nam
từ đất liền ra ngoài biển. Tại băi Tứ
Chính nơi khai thác dầu khí, biển sâu không tới 400m, và
tại vùng đảo Trường Sa và cồn An Bang,
độ sâu chỉ tới 200m. Băi Tứ Chính nằm cách
bờ biển Việt Nam 190 hải lư và cách lục
địa Trung Hoa 800 hải lư. Như đă tŕnh bày,
Trường Sa cách Hoa Lục bằng một rănh biển
sâu tới 5062m, nên không được hưởng quy
chế Thềm Lục Địa Mở Rộng (Extended
Continental Shelf). Mà dầu có mở rộng tối đa
đến mức 350 hải lư, cũng không lấp
được khoảng trống 800 hải lư từ
đất liền ra hải đảo. V́ những lư do nói
trên, các đảo Trường Sa không thuộc chủ
quyền lănh thổ của Trung Quốc trong mọi
trường hợp.
Đuối về pháp lư, Trung Quốc không bao giờ
đặt vấn đề tranh luận công khai về
Biển Đông với các quốc gia Đông Nam Á. Mà cũng
không dám đưa vụ tranh chấp hải đảo
tại Nam Hải ra trước các cơ quan ḥa giải,
trọng tài hay tố tụng như Ủy Ban Ḥa Giải,
Hội Đồng Trọng Tài hay Ṭa Án Luật Biển.
Đó cũng là nhận định của học giả
Trung Quốc Lô Chi-Kin trong Luận Án Tiến Sĩ
đệ tŕnh Đại Học Kinh Tế Chính Trị Luân
Đôn năm 1986: “On its position over the islands, China has been most reluctant to subject the disputes to international legal arbitration”.
Biển Lịch Sử hay Lưỡi
Rồng Trung Quốc.
Căn cứ vào những điều kiện tâm lư nói trên,
chúng ta ghi nhận Trung Quốc đă tiến bộ khi
nạp đơn thỉnh nguyện ngày 13-5-2009 tại
Ủy Ban Phân Ranh Thềm Lục Địa Liên Hiệp
Quốc. Tuy nhiên họ chỉ xuất tŕnh mỗi một
tấm Bản Đồ Lưỡi Ḅ để đ̣i
chủ quyền hải phận theo h́nh lưỡi ḅ mà
trước kia họ gọi là Biển Lịch Sử hay
Lưỡi Rồng Trung Quốc.
Năm 1982, sau khi kư Công Ước về Luật Biển,
Bắc Kinh tập hợp 400 học giả Trung Quốc,
ngày đêm nghiên cứu, thảo luận trong suốt 10
năm để kết luận rằng Nam Hải là
biển lịch sử của Trung Hoa từ hơn 2000
năm. Rồi họ hội nghị với 100 nhà trí
thức Đài Loan để nhất trí xác nhận sự
kiện lịch sử này.
Theo Bắc Kinh, Lưỡi Rồng Trung Quốc có một
diện tích bao la bằng phân nửa lục địa Trung
Hoa. Nó chiếm hơn 80% hải phận Biển Đông Nam
Á, cách bờ biển Quảng Ngăi (Việt Nam) 40 hải lư,
cách Natuna (Nam Dương) 30 hải lư, cách Sarawak (Mă Lai) và
Palawan (Phi Luật Tân) 25 hải lư. Nó chiếm trọn 3 túi
dầu khí đang khai thác là Băi Tứ Chính (Vanguard Bank)
của Việt Nam, băi Natuna của Nam Dương và băi
Cỏ Rong (Reed Bank) của Phi Luật Tân.
Chiếu Điều 76 và 77 Công Ước Liên Hiệp
Quốc về Luật Biển, các quốc gia duyên hải
có chủ quyền tuyệt đối và đặc
quyền chuyên hữu 212 hài lư (gồm 12 hải lư Biển
Lănh Thổ và 200 hải lư Thềm Lục Địa) tính
từ đường cơ sở của bờ biển
quốc gia (thông thường là mực nước thủy
triều xuống thấp). Trong trường hợp này
Lưỡi Ḅ Trung Quốc đă “liếm sâu” 172 hải lư
vào thềm lục địa Việt Nam, 182 hải lư vào
thềm lục địa Nam Dương và 187 hải lư vào
các thềm lục địa của Mă Lai và Phi Luật Tân.
Đây là những vi phạm thô bạo vào chủ quyền
lănh thổ của 4 quốc gia hội viên của Hiệp
Hội các Quốc Gia Đông Nam Á (ASEAN). Để chống
lại âm mưu xâm lấn thô bạo này, sự kết
hợp giữa Việt Nam phía Tây và các quốc gia phía
Đông Nam như Nam Dương, Mă Lai, Brunei và Phi Luật
Tân là việc phải làm.
Đó là Sách Lược Bắc Cự
Bá Quyền.
Kết Hợp Đông Nam.
Thuyết Biển Lịch Sử của Trung Quốc
khiến chúng ta liên tưởng đến Thuyết
Biển Lịch Sử Địa Trung Hải của
Đế Quốc La Mă hồi đầu thế kỷ
thứ nhất. La Mă gọi Địa Trung Hải là
“Biển của Chúng Tôi” (Mare Nostrum). Vùng biển này c̣n
rộng hơn cả Biển Đông Nam Á. Nó chạy từ
Tây Ban Nha qua Pháp, Ư, Hy Lạp, Thổ Nhĩ Kỳ
đến toàn vùng biển Trung Đông và Bắc Phi.
Khách quan mà xét, trong thế kỷ 21, nếu c̣n nói
đến Biển Lịch Sử Trung Quốc tại
Đông Nam Á th́ chỉ là đại ngôn hay một tṛ hề
lố bịch. Lư do giản dị và dễ hiểu là
Biển Đông Nam Á tọa lạc tại miền nhiệt
đới Đông Nam Á, trong khi Trung Hoa nằm giữa
miền ôn đới với Đông Trung Quốc Hải,
Biển Hoàng Hải và Bắc Hải.
Tranh Nghị hay Bất Khả Tranh
Nghị?
Điều khôi hài hơn nữa là, sau khi đ̣i
cưỡng chiếm hơn 80% hải phận Biển
Đông Nam Á mà không viện dẫn được
điều khoản hay nguyên tắc nào của Công
Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển hay
của Ṭa Án Quốc Tế The Hague, Bắc Kinh c̣n vơ đoán
khẳng định rằng vấn đề chủ
quyền của Trung Quốc tại biển Nam Hải là
bất khả tranh nghị!
Trong kỷ nguyên hiện nay, với Luật Pháp Quốc
Tế thay thế Luật Rừng Xanh, và với hội
trường thay thế chiến trường, chúng ta
khẳng định rằng không có điều ǵ, việc
ǵ hay vấn đề ǵ là bất khả tranh nghị theo
lối cả vú lấp miệng em của phe bá quyền
Trung Quốc. Luận điệu này chỉ có thể
đưa ra trong những triều đại độc
tài phong kiến và độc tài đảng trị
đời Tần Thủy Hoàng, Hán Vũ Đế, Minh
Thành Tổ và Mao Trạch Đông.
Rút kinh nghiệm sinh hoạt nghị trường và sinh
hoạt hội đoàn, mọi người đồng ư
rằng có tranh luận mới t́m ra Chân Lư. Theo lời minh
triết của cổ nhân “Từ tranh luận mới
nẩy ra ánh sáng và sự thật.” (De la discussion jaillit la
lumière; Light flashes from discussion; Truth springs from discussion).
Sở dĩ ngày nay Bắc Kinh không dám tranh luận v́ không có
cơ sở pháp lư để đ̣i cưỡng chiếm
hơn 80% thềm lục địa của các quốc gia
ven bờ biển Đông Nam Á. Hơn nữa Điều 77
Luật Biển công nhận thềm lục địa
thuộc chủ quyền tuyệt đối của các
quốc gia duyên hải mà ngoại bang không được
quyền cưỡng chiếm.
Điều mà chúng ta muốn nhắn nhủ nhà cầm
quyền Bắc Kinh là Thuyết Biển Lịch Sử ngày
nay đă bị nhân loại văn minh vứt vào thùng rác
lịch sử.
Thật vậy, áp dụng Luật Tục Lệ Quốc
Tế và Công Pháp Quốc Tế, Ṭa Án Quốc Tế The Hague
và Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật
Biển đă minh thị phán quyết và quy định
như sau:
“Biển Lịch Sử là nội hải tọa lạc
về phía bên trong đất liền, hay về phía bên trong
đường cơ sở của biển lănh thổ (The
International Court of Justice has defined “historic waters” as “internal
waters”. Waters on the landward side of the baseline of the territorial sea
form part of the internal waters of the State”: UK vs. Norway, 1951, ICJ 116, 130; Art. 8 LOS Convention 1982).
Và công tŕnh 10 năm nghiên cứu của 500 trí thức và
học giả Trung Hoa rốt cuộc chỉ là công “dă tràng
se cát Biển Đông, nhọc nhằn mà chẳng nên công cán
ǵ!”
Như vậy Biển Đông Nam Á hay Nam Hải không
phải là Biển Lịch Sử của Trung Quốc v́ nó
là ngoại hải, cách bờ biển Trung Hoa đến
2000km.
Vấn Đề Chính Danh: Chủ
Quyền hay Vị Trí?
Nói về danh xưng, chúng ta phải đặt vấn
đề chính danh. Biển Nam Hoa chỉ là tên gọi do các
nhà thám hiểm hàng hải quốc tế đặt ra khi
họ vượt Ấn Độ Dương qua Eo
Biển Malacca tới Thái B́nh Dương. Trên bản
đồ thế giới có nhiều tên biển
tương tự như vậy.
Từ thế kỷ 15 phong trào thám hiểm đại
dương bột phát với Columbus tại Mỹ Châu,
Vasco de Gama và Magellan tại Á Châu.
Khi vượt Đại Tây Dương qua Mũi Hảo
Vọng đến Ấn Độ Dương, các tàu xuyên
dương chạy tới vùng biển của các quốc
gia duyên hải như Saudi Arabia, Yemen, Iraq, Ba Tư, Ấn
Độ, Thái Lan, Miến Điện, Mă Lai. Tại Ấn
Độ Dương, về phía tây bắc có biển Arabia
(Arabian Sea) tiếp giáp Yemen, Oman, Saudi Arabia, Iraq, Ba Tư.
Như vậy, Biển Arabia không thuộc chủ quyền
riêng biệt của Saudi Arabia, cũng như Ấn
Độ Dương không thuộc chủ quyền riêng
biệt của Ấn Độ.
Tại Thái B́nh Dương cũng vậy. Tại Biển
Nhật Bản (Sea of Japan) các quốc gia duyên hải là
Nhật Bản, Đại Hàn, Bắc Hàn và Công Ḥa Nga nên
không thuộc chủ quyền riêng biệt của Nhật
Bản.
Nói tóm lại về mặt danh xưng, nếu Ấn
Độ Dương không thuộc chủ quyền riêng
biệt của Ấn Độ, Biển Nhật Bản
không thuộc chủ quyền riêng biệt của Nhật
Bản, th́ Biển Nam Hoa hay Nam Hải (South China Sea) cũng
không thuộc chủ quyền riêng biệt của Trung
Quốc. Biển này tiếp giáp các quốc gia Đông Nam Á
như Việt Nam, Tân Gia Ba, Nam Dương, Mă Lai, Brunei và Phi
Luật Tân.
Theo Tự Điển Từ Hải xuất bản năm
1948 “Nam Hải thuộc chủ quyền lănh thổ chung
của 5 quốc gia là Trung Quốc, Việt Nam, Mă Lai, Phi Luật
Tân và Đài Loan” (đúng ra là Nam Dương tại miền
nhiệt đới). Khi các nhà thám hiểm hàng hải
quốc tế đến vùng biển gần Ấn
Độ, họ gọi đó là Ấn Độ
Dương. Không phải để xác định chủ
quyền hải phận của Ấn Độ, mà chỉ
ghi nhận vị trí vùng biển này tiếp giáp Ấn Độ.
Tại Thái B́nh Dương cũng vậy. Khi tầu
vượt qua Eo Biển Malacca đến miền duyên
hải Trung Quốc, muốn cho tiện, họ gọi
đó là Biển Nam Hải (ngoại nhân xưng Nam Trung
Quốc Hải). Mục đích chỉ để thông báo
cho các thủy thủ biết vị trí vùng biển này
tiếp giáp Trung Quốc.
Về mặt lịch sử, từ đời Tần
Thủy Hoàng, Nam Hải là một quận của Trung
Quốc thuộc tỉnh Quảng Đông, cách huyện
Hải Phong 50 dặm về phía nam. Theo các học giả
Trung Quốc, Nam Hải, trước kia mang tên
Trướng Hải, là “vùng biển kéo dài từ Eo Biển
Đài Loan đến Quảng Đông” The Southern Sea stretches
from the Taiwan Strait to Kwantung: A New Practical Chinese-English Dictionary,
Hongkong 1971).
Năm 1982, sau khi kư Công Ước Liên Hiệp Quốc
về Luật Biển, Trung Quốc phủ nhận Công
Ước bằng cách vẽ lại bản đồ và
đ̣i chủ quyền lănh thổ toàn vùng Biển Đông
Nam Á, bất chấp mọi phản kháng của các quốc
gia duyên hải trong khu vực. Từ 1955, với Chính Sách
Đại Hán do Mao Trạch Đông đề xướng,
Bắc Kinh coi Biển Nam Hải là một thứ nội
hải của họ theo kiểu Đế Quốc La Mă
ngày xưa coi Địa Trung Hải là “Biển Của Chúng
Tôi” (Mare Nostrum).
Ngày nay thuyết Biển Lịch Sử chỉ c̣n là một
khẩu thuyết vô bằng. Bàn về yêu sách Lưỡi
Rồng của Trung Quốc, các học giả tại Trung
Tâm Hải Dương Đông Tây (Hawaii) phải kêu lên
rằng: “Không có điều khoản hay ngyên tắc nào trong
Công Pháp Quốc Tế cho phép Trung Quốc đ̣i như
vậy!”.
Ngày 13-5-2009 Chính Phủ Bắc Kinh nạp phúc tŕnh tại
Ủy Ban Phân Ranh Thềm Lục Địa, không phải
để yêu cầu được hưởng quy chế
Thềm Lục Địa Mở Rộng 350 hải lư như
50 quốc gia duyên hải khác. Mà để đ̣i Liên
Hiệp Quốc xác nhận chủ quyền hải phận
của họ từ bờ biển Quảng Đông, qua các
bờ biển Việt Nam, Nam Dương, Mă Lai, Brunei và Phi
Luật Tân. Vùng hải phận này chiếm hơn 80%
Biển Đông Nam Á, dài hơn 900 hải lư và rộng
hơn 600 hải lư. Theo ngoa ngôn của Bắc Kinh, nó có
một diện tích bao la bằng phân nửa toàn thể
lục địa Trung Hoa.
Kết quả dễ thấy nhất là đơn thỉnh
nguyện của Trung Quốc trước sau rồi
cũng sẽ bị Ủy Ban Phân Ranh Thềm Lục
Địa Liên Hiệp Quốc không cứu xét hay bác bỏ.
Việc Trung Quốc có thực sự muốn trở
về với Nhân Loại Văn Minh hay không c̣n là vấn
đề chúng ta phải cảnh giác theo dơi.
Có điều hiển nhiên là, ngày nay, Đế Quốc
Đại Hán đang đi trên đường suy thoái.
Luật Sư Nguyễn Hữu Thống
Ủy Ban Luật Gia Việt Nam Bảo Vệ Dân
Quyền
(Hạ tuần tháng 5-2009)