Nhân Dịch Cúm Heo

Nghĩ Đến Chiến Tranh Sinh Học

Phạm Hiếu

 


Đang lo lắng với cuộc chạy đua vũ trang mới khi Bắc Hàn cương quyết thử phi đạn tầm xa và Trung Quốc tăng cường hải quân th́ thế giới lại càng lo lắng thêm khi dịch cúm heo bùng phát.

Cái ǵ sẽ xảy ra nếu một quốc gia “điên điên”, một nhà độc tài “khùng khùng” cỡ như Saddam Hussein hay Kim Nhật Thành gây sự với thế giới bằng thứ vũ khí này? Cái ǵ sẽ xảy ra nếu một trùm khủng bố như Osama bin Laden có loại vũ khí cúm heo trong tay?

Sau vụ khủng bố 11.9.2001 cả nước Mỹ đă “lên cơn điên” với những lá thư chứa bột trắng, bảo là chứa khuẩn bệnh than. Sau đó, đến đại dịch SARS khởi phát ở Hong Kong rồi lan ra khắp nơi vào năm 2003, làm tê liệt nền kinh tế của nhiều quốc gia Đông Á. SARS gọi là “Hội chứng viêm đường hô hấp cấp tính” đă khiến khu vực châu Á-Thái B́nh Dương bị thiệt hại trên 40 tỷ Mỹ kim. Trận dịch này này kéo dài 6 tháng, cướp đi sinh mạng của 775 người trong số hơn 8,000 người nhiễm bệnh tại 25 nước và lănh thổ.

Trong bài này chúng ta sẽ t́m hiểu về loại vũ khí có thể dẫn diến ngày tận thế này. 

Vũ khí sinh học 

Có thể nói rằng quân đội Anh là quân đội đầu tiên sử dụng đến vũ khí sinh học, trong cuộc chiến chống lại người da đỏ tại Canada vào thế kỷ 18.

Đó là năm 1763, khi người da đỏ ở Pontiac nổi dậy chống quân Anh, Tư lệnh lực lượng Anh tại Bắc Mỹ là tướng Jeffrey Amherst (1717-1797) đă hạ lệnh cho đại tá Henry Bouquet, chỉ huy trưởng đơn vị đồn trú tại đây, phải sử dụng vũ khí vi trùng. Viên tướng này nhấn mạnh: "Ông không thể gieo rắc bệnh đậu mùa cho bọn da đỏ bất trị này hay sao? Chúng ta phải dùng mọi cách có thể để giảm số lượng bọn chúng càng nhiều càng tốt!".

Vâng lệnh thượng cấp, đại tá Bouquet đă ra lệnh binh sĩ mang những tấm chăn tẩm đầy vi khuẩn đậu mùa rồi cố t́nh "đánh rơi" hay "bỏ quên" tại những địa điểm ở gần nơi cư trú của người da đỏ. Kết cục, những tấm chăn ấm áp này đă làm giảm đi 10 phần trăm dân số người da đỏ tại Pontiac.

Năm 1932 "Đơn vị 731" của quân đội Nhật đă tiến hành việc thử nghiệm các loại vi khuẩn Anthrax, Cholera, Shigellosis, Salmonnella và Plague đối với các tù nhân tại Măn Châu, và chương tŕnh “thí nghiệm” này giết chết khoảng 10,000 tù nhân.

Kể từ Đệ nhị thế chiến, cả Mỹ lẫn Anh đều tiến hành thí nghiệm tác dụng của khuẩn đậu mùa và khuẩn Anthrax trên cừu và tích trữ khá nhiều. Dĩ nhiên Mỹ đă làm th́ Nga cũng chạy đua và cũng t́m cách phát triển thứ vũ khí vi trùng này.

Tuy nhiên đến thập niên 60, khi thấy được mức độ khủng khiếp của vũ khí hóa học trong chiến tranh Việt Nam (thuốc khai quang), công chúng Mỹ bắt đầu gây sức ép và chính phủ Mỹ phải buộc ḷng từ bỏ việc nghiên cứu loại vũ khí hoá học và vũ khí sinh học. Tháng 11.1969, Tổng thống Richard Nixon tuyên bố đ́nh chỉ chương tŕnh nghiên cứu vũ khí sinh học của Bộ quốc pḥng.

Sau hành động này của Mỹ th́ các cường quốc đă ngồi lại để thảo luận về một hiệp ước quốc tế nhằm ngăn cấm việc phát triển và sản xuất các loại vũ khí sinh học.

Năm 1972, Mỹ, Anh và Liên Xô cùng kư Hiệp ước về vũ khí sinh học, trong đó nghiêm cấm tất cả các nước trên thế giới sản xuất loại vũ khí tàn độc này.

Thế nhưng năm 1989, khi một khoa học gia hàng đầu của Liên Xô về vũ khí sinh học là Vladimir Pasechnik đào ngũ sang Anh, ông ta đă tiết lộ nhiều bí mật động trời: Công ty sản xuất dụng cụ y tế Biopreparat của Liên Xô, được thành lập năm 1973, chính là một cơ sở nghiên cứu vũ khí sinh học.

Năm 1992, Tiến sĩ Ken Alibek (c̣n gọi là Kanatjan Alibekov), nguyên là trưởng nhóm các nhà khoa học tại Biopreparat, cũng chạy sang Mỹ xin tỵ nạn và tiết lộ nhiều tin tức khác liên quan đến chương tŕnh sản xuất vi khuẩn bệnh đậu mùa của “công ty”.

Cũng năm đó, một nhân viên KGB đào ngũ sang phương Tây đă tiết lộ thông tin tương tự về chương tŕnh phát triển vũ khí sinh học với vi khuẩn đậu mùa.

Hiện tại, các cơ quan t́nh báo phương Tây cho rằng có ít nhất ba nước vẫn đang tiếp tục công việc nghiên cứu vũ khí sinh học là Bắc Hàn, Iraq và Nga. Một số nước khác cũng bị họ nghi ngờ là Trung Quốc, Cuba, Ấn Độ, PakistanIran. 

Phân loại vũ khí sinh học 

Thành phần chính của vũ khí sinh học gồm các loại virus và vi khuẩn có thể gây ra bệnh tật. Người ta phân loại chúng bằng nhiều cách khác nhau dựa trên mục tiêu gây mầm bệnh cho con người, vật nuôi hay cây trồng.

Trong đó vũ khí sinh học nhắm vào con người được xem là nguy hiểm nhất, loại này gồm các mầm gây bệnh chính:

- Vi khuẩn: Là những sinh vật đơn bào có thể gây ra bệnh tật, ví dụ như khuẩn h́nh que anthrax (gây bệnh than), khuẩn gây bệnh dịch hạch.

- Trùng rận (Riketsi): Là những nhóm vi khuẩn sống kư sinh như Coxiella burnetii, Rickettsia prowazekii và Rickettsia rickettsii.

- Virus: Là loại siêu vi khuẩn có trong tất cả các cơ thể sống từ vi khuẩn, nấm cho đến các loài động vật và cây cối. Một số loại virus nguy hiểm cho con người tiêu biểu như virus Ebola, virus Marburg, virus bệnh đậu mùa và virus bệnh đau màng năo Venezuelan equine.

- Độc tố: Là những chất độc do sinh vật sống tạo ra (như động vật, vi khuẩn, nấm, cây cối &). Ví dụ có độc tố Aflatoxin, độc tố saxitoxin và trichothecene mycotoxin (do nấm tạo ra), độc tố Botulinus (Clostridium botulinum), độc tố ricin (do loài hải ly tạo ra).

Những loại khuẩn này đều được liệt vào danh sách cấm của Công ước quốc tế về vũ khi sinh hóa, do đó nguời ta lo sợ đến kẻ hở của công ước này: những chất cải biến “yếu tố di truyền” (gene): thí dụ gieorắc các hạt lúa mạch, luá ḿ đă biến đổi gene để gây tác hại mùa màng hay gây bệnh ở người tiêu thụ: hệ thống miễn dịch của con nguời, thực vật hay động vật không thể chống lại được bệnh đó.

Vũ khí sinh học trong tay khủng bố

Cái ǵ sẽ diễn ra nếu các nhóm khủng bố hay tội phạm thủ đắc được các loại vũ khí sinh học?

Theo các chuyện gia th́ sau khi Liên Xô sụp đổ vào năm 1991, nhiều nhà khoa học chuyên về vũ khí của Nga lâm cảnh thất nghiệp, và do đó rất dễ bị đồng tiền cám dỗ và có thể đă bán những kỹ thuật, bí mật và thậm chí cả những chủng khuẩn để sản xuất vi khuẩn cần thiết cho các quả bom sinh học cho các nhóm khủng bố hay các chính  phủ độc tài.

Trong đỉnh cao của dịch cúm gà 2005 người ta đă lo lắng nghĩ đến một cuộc chiến khủng bố bằng vũ khí sinh học mà thế giới hầu như chưa sẵn sàng để đối phó.

Riêng tại Úc, các chuyên viên của chính phủ liên bang cho rằng nếu cuộc tấn công này xảy ra và cúm gà bộc phát trên diện rộng, ảnh hưởng tới khoảng 1/ 4 dân số thôi, nước Úc sẽ hoàn toàn lúng túng v́ không có đủ thuốc chủng ngừa. Họ nhẩm tính; chỉ trong ṿng từ 6 đến 8 tuần sẽ có:

từ 13,000 đến 44,000 người mất mạng

từ 57,900 đến 148,000 phải nhập viện

từ 2.6 đến 7.5 triệu người phải điều trị ngoại trú.

Lúc này bệnh viện sẽ bị quá tải, các công sở và xưởng thợ cũng không có người đến làm việc v.v.. kinh tế sẽ bị đ́nh đốn.

Năm 2008 Ngân hàng Thế giới (World Bank) đă ước tính rằng một đại dịch cúm có thể gây tốn kém 3,000 tỷ Mỹ kim và giảm 5% tổng sản phẩm thế giới. WB cũng ước tính rằng hơn 70 triệu người trên thế giới có thể chết v́ một đại dịch.

Nhân tiện nói về vũ khí sinh học, chúng ta bàn luôn đến vũ khí hoá học. 

Vũ khí hoá học 

Vũ khí hoá học ra đời c̣n sớm hơn vũ khí sinh học v́ từ thời cổ đại con người đă biết sử dụng các chất độc có sẵn trong thiên nhiên để hại nhau.

Đọc sử Tàu chúng ta đă biết đến các loại tên tẩm thuốc độc, chế tạo từ các loại nhựa cây, và đây chính là một h́nh thức thô sơ của vũ khí hoá học. Rồi đọc kiếm hiệp Tàu, chúng ta c̣n biết rằng các hiệp khách thuộc “danh môn chính phái” thường tỏ vẻ khinh bỉ trước các chiêu thức sử dụng độc dược của các môn phái “tà ma ngoại đạo” v.v... Tên độc, chất độc phun trong gió hay bỏ trong thức ăn, nước uống cũng là một h́nh thức của vũ khí hoá học.

Từ thế kỷ thứ 6 trước công nguyên (CN) người Ba Tư đă biết sử dụng các lại cây cỏ độc để thả xuống các giếng nước hay đầu nguồn các con sông của kẻ thù. Trong cuộc vây hăm thành Ambracia năm 187 trước CN, binh sĩ La Mă đă đốt cây xông khói và phun tro để đối phương bên trong ngạt thở.

Năm 673, người Hy Lạp phát minh ra một thứ khói độc gọi là "Lửa Hy Lạp" và họ đă giữ kín bí mật pha chế của vũ khí này trong suốt 5 thế kỷ sau đó.

Giữa thế kỷ 13, người Anh đă phóng vôi bột vào tàu chiến Pháp, khiến những binh sĩ bị dính vôi bột vào mắt  không thể nào chiến đấu. Ngay lúc đó họ phải lo đi t́m nước để rửa nếu không th́ mắt sẽ sưng và sau đó có nguy cơ bị mù.

Cũng trong thời trung đại, thổ dân da đỏ ở vùng Amazon đă lấy các da cóc để ngâm thuốc độc tẩm vào đầu mũi tên, cách thức tẩm độc này được họ sử dụng cho tới thế kỷ 20.

Theo thời gian, vũ khí hoá học càng ngày càng phát triển tuy nhiên phải đợi đến Đệ nhất thế chiến (1914-1918), vũ khí hóa học mới được sản xuất trên quy mô kỹ nghệ và đưa đên những hậu quả thảm khốc trên quy mô lớn.

Người có "công" mở đường cho kiểu cách giết người này là Fritz Bazer, một nhà hoá học Đức gốc Do Thái. 

Fritz Haber

Fritz Haber sinh năm 1868 trong một gia đ́nh khá giả, cha là một doanh nhân, có một xưởng hoá học nhỏ. Sau khi tốt nghiệp đại học Heidelbert và sau đó Berlin (1886-1891) Haber trở về làm việc tại xưởng hoá chất của cha ḿnh.

Sau một thời gian, ông đến Viện kỹ thuật Zurich làm phụ tá cho giáo sư Georg Lunge và từ đây trở nên say mê với việc nghiên cứu nhiều hơn. Sau khi cho công bố nhiều t́m ṭi chung với các đồng nghiệp, năm 1896 Haber bảo vệ luận án tiến sĩ hoá học với đề tài "Tổng hợp và phân hủy các hợp chất hydro-carbon". Ngay sau đó, ông được bổ nhiệm làm giáo sư Lư-Hoá và Điện-Hoá tại một viện nghiên cứu tại Karlsruhe.

Năm 1898, Haber cho xuất bản cuốn sách giáo khoa Điện hoá học, vốn là tập hợp các bài giảng tại Karlsruhe. Trong lời nói đầu của cuốn sách này, ông bày tỏ ước muốn "nối kết việc nghiên cứu hoá học với các hoạt động kỹ nghệ".

Trong những năm đầu của thế kỷ 20 ngành nông nghiệp tiêu thụ rất nhiều phân đạm mà nguồn cung cấp chủ yếu là phân chim của Chile. Các loại chim biển thường thải phân tại dọc theo một vùng bờ biển dài 220 dặm của Chile. Tuy nhiên, Đức đang bị Anh chơi ép và Hải quân Anh đang phong toả đường biển của Đức đến Chile khiến ngành nông nghiệp Đức lâm cảnh điêu đứng v́ thiếu phân đạm. Haber tự đặt cho ḿnh nhiệm vụ: tự chế ra phân đạm.

Năm 1905 ông công bố công tŕnh nghiên cứu về hiện tượng "nitrat hoá" trong tự nhiên: chính sấm sét đă kết hợp hai nguyên tố nitrogen và hydro thành amonia. Sau đó, mô phỏng thiên nhiên, Haber cho khí nitrogen kết hợp với khí hydrogen trong điều kiện nhiệt độ 500 độ C và dưới áp suất từ 150 đến 200 atmosphere với sự xúc tác của sắt để tạo nên amonia, thành phần chính để tạo nên phân đạm.

Phát minh của Haber là bước ngoặt lớn của kỹ nghệ hoá học và nền nông nghiệp thời đó và giúp cho Đức nắm được độc quyền sản xuất và xuất cảnh phân đạm nhân tạo. Năm 1911, Haber được bổ nhiệm làm Giám đốc Viện Lư-Hoá Kaiser Wilhelm ở Berlin

Đệ nhất thế chiến khai diễn vào tháng 8 năm 1914. Thoạt đầu, Đức tỏ ra rất tự tin với những chiến thắng dồn dập, nhưng rồi quân đội Đức bị sa lầy và chiến tranh rẽ sang một hướng mới khi hai bên giằng co trong những hệ thống giao thông hào lầy lội, ẩm thấp. Binh sĩ hai bên càng ngày càng mệt mỏi trong khi thương vong và bệnh tật ngày càng chồng chất.

Haber nghĩ đến một thứ khí độc có thể len lỏi vào những hầm hố để thay đổi cục diện chiến trường. Khí ở đây là chlorine, có thể đốt cháy buồng phổi của người hít phải: với tỷ lệ 30 trên một triệu trong không khí, chlorine khiến người hít ho rất nặng; với tỷ lệ 1,000 trên một triệu, nó sẽ gây tử vong.

Tuy nhiên, khi Haber tiếp xúc với giới quân sự Đức để rao bán ư tưởng này, ông đă bị khước từ. Không nản chí, ông mời họ chứng kiến một cuộc thí nghiệm và khi thấy được tác dụng của khí độc này, giới lănh đạo Đức bèn gắn quân hàm cho Haber để giúp đỡ họ thành lập một binh đoàn hoá học. Ngày 22.4.1915, Đức đă đặt 5,730 b́nh chứa chlorine ở gần pḥng tuyến quân Pháp và Algeria tại lănh thổ Bỉ và mở khoá: cả thảy 180 tấn chlorine thoát ra, tạo nên một đám khói dày đặc và cuốn về đối phương.

Kết quả thật là kinh khủng: lính Pháp và Algeria bị ngạt, bị cháy phổi và chết từ từ. Tối 23.4 và rạng sáng 24.4 Đức lại sử dụng vũ khí này vào pḥng tuyến của quân đội Canada với kết quả tương tự. Chỉ sau hai đợt tấn công, vũ khí mới của Đức đă sát hại 5,000 binh sĩ và khiến 10,000 binh sĩ khác trở thành thương binh.

Báo chí Đức tỏ ra khích động với thứ vũ khí mới này, cho rằng nó c̣n "nhân đạo hơn cả đạn và pháo". Haber được thăng lon đại úy và mở tiệc ăn mừng. Tuy nhiên Clarra, vợ của Haber, cũng là một nhà hoá học, tỏ ra ghét cay ghét đắng "phát minh" của chồng, cho rằng khoa học phải phục vụ việc xây dựng chứ không thể phục vụ chiến tranh. Sau ngày đăi tiệc, hai người đă căi nhau rầm trời, Clara gọi Haber là làm một nhà khoa học suy đồi, Haber gọi Clara là "phản bội Đức quốc". Đến tối, bà đă lấy súng lục của chồng để tự sát bằng cách dùng súng bắn vào ngay trái tim ḿnh.

Ngay sau đó Haber lại băng ra mặt trận miền Tây, để đám tang của vợ ḿnh cho người khác lo liệu. Nhiều người cho rằng chính gốc gác Do Thái của Haber đă khiến ông cố tỏ ra "Đức hơn cả người Đức".

Dù sao th́ Đức đă không chuẩn bị đầy đủ: quân đội chưa trang bị đủ các dụng cụ bảo vệ để "thừa thắng xông lên" và do đó họ đă đánh mất một cơ hội chiến thuật mà Haber đưa lại. Tháng 5.1915, Đức lại tiến hành một trận tấn công tương tự và dù quân đội đồng minh đă được trang bị mặt nạ với bộ phận lọc dùng nước soda, những dụng cụ này đă tỏ ra vô dụng và kết quả vẫn kinh hoàng.

Tháng 9.1915, Anh lại sử dụng khí độc tương tự này, với 5,500 b́nh gas để chống quân Đức, tuy nhiên gió lại xoay chiều giữa chừng nên cả hai đều bị thiệt hại nặng nề.

Tháng 12.1915, Haber lại đưa ra một loại khí độc mới là "phosgene", một loại khí khó nhận, không gây triệu chứng ǵ trong hai ngày đầu trừ triệu chứng ngứa ngáy, phải đợi đến hai ngày sau mới phá nát buồng phổi.

Tuy nhiên Anh lại khám phá thứ vũ khí mới này. Đầu tiên họ phát minh một loại mặt nạ khá an toàn, sau đó lại dùng cả phosgene và chlorine để tấn công Đức. Tháng sáu 1916, Anh đă phun hai loại khí này thành một đám mây dày đặc trên một bề rộng 27 cây số, và đám mây này đă len sâu vào bên trong pḥng tuyến tới 19 cây số, sát hại bất cứ sinh vật nào không có phương tiện bảo vệ.

Cứ như vậy đến năm 1918, chiến tranh hoá học giữa hai bên leo thang và Haber nghĩ đến cách đưa các b́nh nén khí độc trong đầu đạn đại bác. Khi chiến tranh kết thúc, người ta ước lượng vũ khí hoá học đă giết chết 100,000 người và làm bị thương 1,000,000 người.

Tuy gây ra một tai nạn khủng khiếp như vậy, năm đó Hàn lâm viện Thụy Điển lại trao tặng giải Nobel Hoá Học cho Haber, căn cứ vào đóng góp của ông đối với nhân loại qua việc chế tạo phân đạm.

Khi Hitler lên cầm quyền th́ cuộc đời Haber rẽ sang hướng khác. Dù có chứng tỏ ḿnh "Đức hơn người Đức", gốc gác Do Thái đă khiến ông trở nên cảm thấy bất an và năm 1933 Haber sang Anh làm việc. Sau đó ông chuyển qua định cư tại Thụy Sĩ và qua đời tại đây vào năm 1935. Trước khi qua đời, ông yêu cầu được mai táng cạnh người vợ cũ Clara. 

Sự lo lâu mới 

Về mặt vũ khí hoá học th́ hiện thế giới đang lo ngại bom bẩn, tức thứ bom dùng để tung rác thải hạt nhân để tạo nên t́nh trạng nhiễm phóng xạ trên quy mô lớn. Những quả bom như thế không giết người tức khắc mà với ảnh hưởng của phóng xạ, sẽ khiến con số các bệnh nhân ung thư, hoại tử tăng vọng, khiến các trung tâm thương mại, các vùng dân cư, các cao ốc trở thành những nơi không thể cư ngụ được, và do đó sẽ làm nền kinh tế kiệt quệ.

Phạm Hiếu