Tam Thanh
THẾ
Ư
Nhập
đề :
Nghe
kể, vào thời ấy, tuy đất nước
thống nhất, một chính phủ cai trị,nhưng quê
hương có cuộc sống c̣n khó khăn, chao
đảo, đạo lư mờ mịt, lương tâm con
người mờ mịt, tương lai người dân
mờ mịt…Thói đời xưa như ngh́n năm, trên khắp
hoàn cầu, nhiễu nhương, khủng bố
đủ loại lan tràn, phương châm “ nén bạc
đâm toạc tờ giấy”, “có tiền mua tiên cũng
được” là thái độ sống thích ứng
phổ thông, hiện đại nhât. Vơ vét của
bằng mọi giá, càng nhiều càng tốt, càng nhanh càng
giỏi, bất chấp luân thường đạo lư, giá
trị xưa của người thâm nho…
Ở
một làng chài nọ, nơi ven biển Thái B́nh
Dương, ngay chân núi, đời sống lương dân
vất vả hai nắng một sương, vật
lộn với biển cả để có miếng ăn
vào dạ dầy như luôn luôn rỗng và manh áo che thân
dễ sờn, mau rách…Ngoài tai ách thiên nhiên, c̣n bị lũ
con Trời xách nhiễu, xua đưổi, hăm hại,
cướp cá , cướp thuyền, bắt làm con tin
đ̣i tiền chuộc, hiếp đáp, giết chóc…
Rồi
một trưa hè oi bức, nắng chói, mây đầy
trời báo hiệu sắp có cơn going, ở trong một
xóm nhỏ nhà tranh vách đất, bỗng vang lên tiếng oe
oe của một trẻ mới chào đời, và sau đó
tiếng ồn ào gay gắt lẫn tiếng gào thét dữ
dằn nổi rộ lên, xáo trộn không khí đang im
lặng, nặng nề, hầm nóng. Tiếng dữ
đồn xa cực kỳ nhanh chóng như sóng thần: con
Lê nhà Bác Tư, tuổi đôi tám, tóc thề đen nhánh, môi
hồng da thắm, mục thèm thuồng của trai tráng,
đàn ông trong làng, không chồng khéo giấu cái bụng
chửa hoang tới ngày lâm bồn mới vỡ lẽ.
Chuyện xẩy ra như quả bom nổ trong làng.
Tiếp
theo là những câu hỏi gay gắt, những cật
vấn tŕ triết, những tra tấn thượng
cẳng tay, hạ cẳng chân để t́m cho ra
người cha bất lương đánh trống bỏ
dùi, không lư ǵ tới t́nh trạng hậu sản của cô
gái đă lỡ dại trao thân cho kẻ lưu manh nay đă
xa chạy cao bay…Những lời dụ ngọt nhạt,
những chửi mắng tục tằn, những cái tát
nổ lửa, những cái vả long trời, những cú
đá nẩy người , cuối cùng cũng đạt
kết qủa : Lê khai người cha của đứa
nhỏ là Thầy Nghiêm, ông thầy tu thiền với cái am
thờ Phật Bà Quan Âm trên núi.
Thế là
gia đ́nh, bà con cḥm xóm, gần như cả làng ào ào,
rần rần, khí thế hung bạo kéo nhau lên núi
để hỏi tội ông thầy và đ̣i hỏi công lư,
kéo theo Lê lếch tha lếch
thếch ôm đưá bé sơ sinh đỏ hỏn, la
khóc choe choé, dẫy đành đạch trong cái khăn
bọc rách rưới.
Tiếng
ồn ào, bát nháo réo gọi, nguyền rủa, chửi
bới nêu đích danh, cuối cùng cũng thấy Thầy
Nghiêm xuất hiện trước thềm hang động,
đầu trọc lóc, bóng loáng, tráng kiện, mặt
hiền từ, trong bộ áo nâu có chỗ vá víu, đi chân
đất, tuổi cỡ ngoài sáu mươi, cặp
mắt sáng như sao xa. Không ai rơ hay nhớ Thầy Nghiêm
đă ở hang này từ bao giờ.
Ngoài Lê ra,
nước mắt chẩy ṛng ṛng, c̣n mọi người
đều la hét om x̣m, hỗn độn, phát hết thú tính
từ hồi giờ bị g̣ bó, kềm kẹp, kiểm
soát, học tập…người giơ gậy nhứ
nhứ, kẻ thọc thọc trong gió khúc đ̣n tre,
nhưng chưa ai dám bạo động.
Trước
những câu hỏi xấn xổ, xấc xược,
hỗn láo nhao nhao của tập thể, Thầy Nghiêm
vỡ lẽ câu chuyện, b́nh thản chỉ có một câu
trả lời duy nhất, mà mọi người nghe như
rót vào tai :
-
Thế ư !
Có kẻ
ném đá giấu tay trúng trán Thầy Nghiêm, máu chẩy thành gịng.
Thầy chao đảo đôi chút, không giơ tay sờ
vết thương hay quệt vệt máu, nh́n thẳng
như xoáy vào đáy mắt từng người.
Rồi
cuối cùng, người cha của Lê, giật đứa
bé bọc trong tấm vải thô từ tay mẹ nó và
đặt dưới chân Thầy Nghiêm, trước
tiếng khóc thảm thiết, ai oán của Lê.
Lúc
trời đổ tối, đám dân làng mới lục
tục kéo nhau xuống núi.
Từ
đó, không một ai trong làng lên núi lễ Phật, cúng
dường ở am của Thầy Nghiêm, dù vào dịp
Tết, ngày Phật Đản…
Cuộc
sống dân chài tiếp tục trôi vất vả, lam lũ,
cực khổ, mồ hôi da cháy xám đổi lấy bát
cơm….dăm thanh niên mất mạng v́ bị tầu
lạ cướp cá và bắn chết, chẳng ai ngó ngàng
hay can thiệp.
Hơn một
năm sau, đám dân làng, gần đầy đủ
như trước, lại rần rộ, ùn ùn kéo nhau lên núi
gập Thầy Nghiêm. Cô Lê cùng người t́nh bộ
đội mới gập lại lên xin con về.
Thầy
Nghiêm trước cảnh ân oán đă rơ ràng, vu oan giáng
họa đă minh bạch, vẫn b́nh thản gật
đầu:
-Thế
ư !
* * *
(I)
Người Việt chạy nạn
cộng sản, liều mạng phiêu lưu bỏ xứ
bằng mọi phương tiện, ra nước ngoài t́m
tự do và nguồn sống an
b́nh. Ăn nhờ ở đậu, sau môt thời gian
lập nghiệp, tùy theo xứ tỵ nạn, gần
như khắp thế giới, năm châu, dần dà có
cuộc sống ổn định và vào quốc tịch
bản xứ, từ bỏ công dân Việt, chỉ với
xứ tạm dung, chứ chưa với Việt Nam xă
hội chủ nghĩa. Hiếm hoi mới có người
được phép giữ lưỡng tịch. Nên khi
về thăm quê cha đất
tổ vẫn có thể bị coi là người Việt
với chính quyền địa phương, theo lư con sáo
hay lư ngựa ô, hoặc luật rừng, tùy theo sở thích
cá nhân…
Phong trào tỵ nạn đă hưởng
dương trên ba mươi mấy năm, và hằng hà sa
số người Việt hải ngoại thuộc
đủ thành phần quân, dân ,cán, chính, nhà tu v.v…của
chế độ cũ đă về quê thăm lại
nơi chôn nhau cắt rốn, với sự từ từ
cởi mở v́ nhu cầu của nhà nước
độc đảng cai trị tuyệt xảo với
hệ thống an ninh bao trùm kỹ lưỡng, không sơ
hở và sở trường tuyên truyền cao độ
tuyệt chiêu.
Tuy nhiên vấn đề về Việt
Nam vẫn c̣n lấn cấn trong cộng đồng
người Việt hải ngoại, chưa hoàn toàn
thỏai mái với chế độ xă hội chủ nghiă,
nên vài mục đích, coi như chính đáng, đă
được đề ra một cách nghiêm chỉnh
để có lư do che đậy những khúc mắc dè
dặt, thầm kín dựa trên sự lo ngại an toàn cho
bản thân, và tự ái cộng ḥa cho những người
kỹ tính , không phải không có lư, với quyết ư nguyên
thủy sẽ không bao giờ trở laị quê nhà khi c̣n
cộng sản :
1-Thăm gia đ́nh , bạn bè
2-Thăm cảnh xưa, lối cũ
3-Thưởng thức lại những
món ăn quê hươn
4-Lo mộ phần cho gia tộc, hay chính
bản than
Như trên đă nói, vấn đề an
ninh nội địa được chủ nghĩa xă
hội đặt ưu tiên hàng đầu nên chưa
thấy bá cáo phá hoại, khủng bố nào trong nhiều
năm qua .
Du khách đi Sapa miền thượng du
Bắc việt hỏi hướng dẫn viên về
vấn đề trộm cắp, móc túi, giật đồ
ngoài chợ, đường phố, th́ được
bảo đảm hoàn toàn an tâm v́ khoảng 75% tới 80% dân
ở vủng biên giới này, bao gồm cả người
kinh lẫn người dân tộc (“thiểu số”)
đều là công an biên pḥng, nên kẻ gian không có môi
trường hoạt động.
Nhưng ở Hà
Nội, Saigon th́ khác, nạn móc túi, cướp
giật thường xẩy ra, cũng tương tự
như các thành phố đông
đúc dân cư ở các nước khác New York, Chicago, Paris,
Madrid, Barcelone, Rome , Mexico , Hong Kong v.v…
*Ông T., kỹ sư công chánh hồi
hưu từ Mỹ về Việt
**Bà H. từng về Việt Nam nhiều
lần thăm gia đ́nh và du lịch từ Hoa Kỳ. Vào
dịp Tết ta năm 2008, bà đi dạo phố đêm
ba mươi trên đường Nguyễn Huệ cũ coi
thiên hạ nhộn nhịp đi lại như nêm và
ngắm những trưng bầy cảnh Tết dưới
ánh đèn sáng trưng…Bà đi cùng một người
bạn gái, tay phải cầm ví có chiếc khăn quàng che,
kẹp tay trái người bạn. Đang chuyện tṛ vui
vẻ quăng gần bồn nuớc trước toà Đô
Chính, th́ có một cô gái ăn mặc đàng hoàng,
lấn gần bà bạn
để hỏi giờ. Bà bạn bỏ tay trái ra coi
đồng hồ, th́ ngay lúc đó có người giật
ví và khăn quàng nhanh như chớp và lủi vào đám
đông, trước mặt người cảnh sát mặc
đống phục giữ an ninh trật tự.
Bà H. bá cáo ngay vớí nhà chức trách, th́
được ḥi :
-Bà có biết mặt người đó
là ai không ?
Bà H. nh́n lên trời cao đen thẫm,
thở dài bỏ đi.
***Năm 2009, vào tháng ba dương
lịch, bà H. lại về Việt
Hai bà đi sát nhau trên lề
đường, rảo bước nhanh, chuyện tṛ vui
vẻ. Bất thần hai thanh niên đèo nhau xe gắn máy
phớt qua, người ngồi phiá sau giang tay qua mặt
người bạn để giật chiếc giây
chuyền vàng tượng phật ngọc xanh đeo ở
cổ bà H. Do phản ứng tự nhiên, bà H. giơ hai tay
chụp lấy giây chuyền ở cổ, nhưng bị
kéo ngă xuống lề xi măng, sỏi đá.
Tên cướp giật hụt buông tay
chạy mất. Hai cẳng tay cũng như hai đầu
gối bà H. trầy trụa máu chẩy rầm rề,
trước mắt thản nhiên của người đi
đường với thái độ chuyện ai nấy
lo.
****Bác sĩ C. từ
Lát sau, bà vợ nh́n xuống túi xách th́
chiếc máy ảnh không cánh mà bay. BS C. buồn bực không
nói ǵ, đưa mắt nh́n quanh và để ư tới
một người ngồi nhàn du dưới gốc cây
gần đó ph́ phèo điếu thuốc lá. Ông sán lại và
than phiền mất cái máy ảnh cũ , chỉ
tiếc cuốn phim đă chụp mà thôi.
Người thanh niên cười bảo ông chờ dấy
rồi quầy quả qua bên kia đường, phiá nhà hát
muá nước rối. BS C. nhanh trí, giấu tiền đi ,
chỉ để lại có hai chục đô. Lát sau, ông
nhận lại cái máy h́nh với giá trao đổi hai
mươi đô.
Móc túi, cướp giật, dù
dưới h́nh thức, mưu mô nào, ở đâu, cũng
là chuyện thường xẩy ra ở các nơi đông
đúc, giầu nghèo lẫn lộn, xứ tự do cũng
như nước độc tài. THẾ Ư !
(I I)
Thông tin qua miệng kể lại của
những người đă không chịu nổi chế
độ độc đảng cùm kẹp, chẳng cho
người dân có quyền tư hưũ với kiểm
soát hộ khẩu ở đầu họng súng, học
tập, kinh tế mới, trại tù giam v.v…nên phải
liều thân bỏ xứ ra đi chín chết một
sống,qua những thư từ thất thoát
được ra ngoài nước, và sau này, điện
thoại viễn liên, mạng lưới mới vạch
trần ra chế độ hà khắc, không nương tay
của đảng và nhà nước. Năm 1975 khi miền
Bắc ùa vào như nước vỡ bờ cưỡng
chiếm miền Nam bỏ ngỏ và đă lập tức
lột truồng miền trù phú béo bở này…Dỉ nhiên
người dân ở thế sống c̣n chẳng
đặng đừng phải tránh né xin xỏ, lạy
lục cống hiến của cải cũng như thân xác
để được bóc lột thành vô sản, thay
v́ sống thoải mái, an lành
ở một nước đă thống nhất, con dân
chờ mong sự khoan dung, yểm trợ, tận t́nh
cởi mở giúp đỡ của cách mạng gọi là
đă thành công, sau bao nhiêu năm bền bỉ chiến
đấu cực nhọc liên miên, chờ mong ở
những người cùng mầu da, cùng tiếng nói, cùng
một tổ tiên chia sẻ vinh quang chiến thắng thay
v́ những hành vi rừng rú của thời Trung Cổ…Và
bộ đội được hiểu nôm na là vừa
đi vừa đội của
về từ miền Nam !
Từ chiến khu, mật khu, hầm
hố, rừng thiêng nước độc về, các anh
hùng cách mạng đă chóa mắt về sự phồn
thịnh, đôi lúc có phần xa hoa của miền Nam
Việt Nam, chứ không phải đói kém, cực nhục,
rách rưới thảm đạm như những lời
tuyên truyền của Đảng và nhà nước, nên
như diều gập gió, cá gập nước…ồ
ạt bung ra chiếm nhà, lấn đất, cướp bóc
công khai, vơ vét tàn bạo, bỏ tù , giam nhốt trong
trại “cải tạo” cả hai mươi mấy
triệu người đă
sống quen trong tự do, nhân quyền cả ngoài hai
mươi năm, nay bữa trứơc bữa sau tay
trắng bơ vơ, cô lập với óc sợ hăi, nghi
ngờ ám ảnh triền miên không biết lúc nào tới
lượt ḿnh chịu trận , lănh đ̣n !
Cách mạng hoàn toàn : sách báo, văn hóa
chế độ cũ hoàn toàn tồi bại, đồi
trụy, hủ hóa, phản cách mạng nên được
mang hết ra đốt như thời Tần Thủy
Hoàng…giáo dục con cái ŕnh rập cha mẹ, lối xóm nḥm
ngó nhau, ngày đêm xem có sơ hở ǵ là bá cáo với cán
bộ lấy điểm. Giá trị tinh thần, tôn giáo,
tôn ti trật tự xă hội, gia đ́nh, nhân phẩm, nhân
vị v.v. được đập phá tận gốc
rễ đă từng ăn sâu bao nhiêu ngh́n năm công phu
tiền nhân ǵn giữ, vun sới để giữ nhà,
dựng nước.
Từ một thể chế, chức
quyền bưng bít thối tha, ĺ lợm với những
tuyên truyền trắng trợn, mới hiển nhiên nầy
sinh ra ở người dân
một trạng thái bất an, không biết cái họa
xẩy ra lúc nào nên phải gian dối, ích kỷ, vu oan giáng
họa, cả vú lấp miệng em, hưởng lợi
bằng mọi giá, mưu toan chiếm đoạt, phe phái,
coi danh dự, tự trọng
như tṛ phù phiếm, không đầy bát cơm, không
có manh áo…
Trừ một số ngoại lệ ít
oi, đa số thống kê người Việt hải
ngoại với hết ḷng thương yêu, bao dung, thông
cảm khi về nước thăm gia đ́nh hay bạn
bè, nếu không chi đô la xanh ra, th́ như cảm thấy
xa cách, có phần bị lơ là, hờ hững, mặc
cảm phải bù đắp
như chờ đợi cho người khổ cùng bị
ức hiếp triền miên, với người ăn sung
mặc sướng, sung túc từ nước ngoài về
bị gán thực hay oan vậy thôi !
*Ông Th. từ Mỹ về thăm gia
đ́nh ở Việt nam. Một bữa ông đi taxi trên
đường tới họp mặt vào buổi trưa
cùng với mấy anh chị em học cùng khóa thời
xưa, sau gần ba chục năm xa xứ. Sẽ có thêm
một người bạn nữa cũng từ Mỹ
về, cái chính với anh bạn này là về ăn
thượng thọ 70 với mấy người con
lớn đă có gia đ́nh c̣n kẹt lại.
Lân la chuyện tṛ, Th. được biết
người tài xế khoảng gần 40, gốc B́nh
Dương, có vợ hai con, một trai 14 và một gái 9 tuổi. Ông chạy xe cũng
cả chục năm nay, tiền kiếm được
tằn tiện tạm sống qua ngày, không phải vay
mượn ai. Cái khó và cái tốn là cho hai con
học trường tư mỗi tháng
tốn cả trên một triệu VN, chứ học
trường công chẳng lợi ích ǵ, c̣n phải tốn
kém mua chuộc bà cô ông thầy nào quà cáp, học tư…v́
nhiễu nhương đă xâm nhập vào ngành giáo dục mà
đồng lương giáo chức không thể nào
đủ sống phải kiếm cách xoay sở giậy
tư thêm…
Th. hỏi:
-
Thế anh
tính cho hai cháu sau này theo học ngành ǵ ?
-
Nếu t́nh
trạng mục nát này c̣n kéo dài thỉ chúng nó chỉ đi
ăn cướp mới sống nổi
Th. gập lại bạn xưa reo
mừng, ánh mắt long lanh, những tưởng
được bắt tay vồn vă, thân
mật , hỏi han rối rít, sau hơn
40 năm ra trường mà chưa có dịp gập lại,
nhưng Th. siết những bàn tay buông lơi, lỏng
lẻo, nụ cười gượng gạo, cũng
chẳng thiết tha hỏi cuộc sống ra sao, hành
nghề ở xứ người thế nào, gia đ́nh con
cái tới đâu rồi…Thế rồi mấy người
bạn kẹt lại tụm vào nhau nói chuyện, ai giờ
này cũng khá cả rồi !
Th. Sau này than với người bạn
nối khố hiện ở quận 9 tức Thủ
Đức cũ nhập vào đô thành.
Anh bạn cười :
-Tụi nó thế đấy ! Không
muốn dây dưa nhiều với người ở
nước ngoài về ! Tránh sao khỏi có người ḍm
ngó ! Kinh nghiệm đời đau thương mà ! Mày
phải hiểu thế chứ !
Cả một thế hệ đă thay
đổi hẳn cách sống, xử thế tính t́nh, tư
cách v́ đă được rèn luyện trong khó khăn, ŕnh
rập, gian xảo theo những qui luật sắt đá
của chương tŕnh đă qui định trước
của Đảng và nhà nước .
Chẳng khác ǵ, nếu không nói là thi hành
lại chính sách hà khắc, tàn bạo, vô nhân đạo
của Đức Quốc Xă hay tập đoàn Sô Viết
với dân trong xứ hay láng giềng thời Đệ
Nhị thế chiến. Mọi điều từ dụ
đi kinh tế mới, giam nhốt trong trại tập
trung, hộ khẩu, thanh toán những người
đối lập, phản kháng, thẳng tay, nhất
nhất đều ghi chép lại trong các bảng
hướng dẫn ở trại tập trung Auschwitz cho du
khách tham khảo bên Ba Lan, nay đă trở thành như bảo
tàng viện về những tội ác của nhóm Nazi hay
cộng sản Nga…
THẾ Ư !
(I I I)
Dĩ nhiên, sau 30 năm, phố xá, thành
thị phải đổi thay, từ tên đường
tới tỉnh lỵ. Một trong những cái nhảm thay
đổi mới là ở Hà Nội,đường Cổ
Ngư, con đường nằm dài ngăn cách Hồ Tây
và Hồ Trúc Bạch, thành đường Thanh Niên ! Không
phải tên thời Quốc Gia, thời Pháp thuộc..
Chẳng tội t́nh ǵ !
Dân số đă tăng gấp đôi,
trong 30 năm, sống lúc nhúc như đàn kiến ở
Năm 2008, bá cáo của sở Y tế,
viện thống kê, có khoảng một triêụ hai bésơ
sinh, nhưng cũng gần con số trên trường
hợp phá thai ! Dân chúng , không biết tương lai đi
về đâu, đua nhau ăn chơi thả dàn, không
giới hạn. Quán ăn từ tiệm sang máy lạnh
tới viả hè góc đường bên cạnh đống
rác hay nước cống đọng, lúc nào cũng
nghẹt khách ăn..
Một bích chương lớn phiá sau nhà
thương Đô Thành dậy
dân chúng nên cẩn thận trong việc chơi bời, ma túy
: cứ mỗi15 phút ở trong xứ lại có một
trường hợp HIV mới !
* Một người Việt ở
Mỹ về
-
Khoảng
một giờ sáng đang
ngủ mê, có tiếng điện thoại reo ! Hết
hồn v́ gọi vạ giờ này . Bên kia đường giây
một giọng con gái nhéo nhéo :”cho mấy cái bao cao su , mau
lên !” Bực ḿnh tôi bảo : “ chơi đại đi ! “,
“không được !”…Hôm sau hỏi “lệ tân”mới hay
gọi nhầm và khách sạn có sẵn bao “phong lưu” bán
cho khách !
Ngoài ra “bia ôm”, « cắt tóc ôm”, “phao
ôm”, “ngủ trưa ôm”…hà rầm !
Một người Việt có ngành chuyên
môn nhưng đă về hưu, năm 2007 về Saigon vào tháng tư, trời
nóng như lửa. Ông theo chân một người bạn
đi bơi cho mát ở Câu Lạc Bộ bơi lội
Kỳ Đồng .Chắc sau giờ tan trường nên
lố nhố một dám thiếu niên, tuổi khoảng 14
tới 16, 17 ồn ào ầm ĩ . Ông thayquần bơi,
tính ngồi hồ nước nóng như thói quen ở các
câu lạc bộ thể thao bên Mỹ, trước khi bơi. Thấy hai ông lỏi
tự nhiên nhưchỗ không người vừa
cười vửa thủ dâm cho nhau…Ông lỉnh ngay và
đành vào pḥng hơi nóng ngồi cho ra mồ hôi.
chốc chốc lại thấy một
thiếu niên mở cửa ra, thấy ông lại nói
:”Bố!” và đóng cửa sầm lại.
Trong lúc ông c̣n đang phân vân t́m hiểu
th́ một cặp thiếu niên khác , quấn khăn quanh
bụng vào ngồi. Chưa nóng chỗ đă thấy
một anh kéo khăn lôngcủa anh kia ra vàkhẩu dục
ngay tại chỗ, không coi sự hiện diện cũa
người khác ra ǵ, sốt ruột , không chờ
được pḥng vắng…Ông tá hỏa hối hả
chạy ra khỏi nơi tụ họp trụy lạc này…
*Ông B. , gốc người Hà Nội
xưa, về quê thăm nhà . Ông có lên cửa khẩu Tân
Thanh coi chơi, cửa Hưũ Nghị , Nam Quan cũ không tới được.
Hằng hà sa số các đồ TrungQuốc từ
quần áo vải, da, va-li, giây lưng,
đồ điệnđủ loại , điện
thoại, vi tính v.v…bầy bán la liệt, trong nhà lồng
cũng như bên ngoài…Ông đang sớ rớ đứng
ở góc đường nh́n tới ngó lui th́ hết cô này
tới bà khác níu kéo gạ bán máy “giảm điện”
trừ được 50% điện phí, và nhất là
thuốc hay phim hoặc bộ phận kích dục :
-Cháu nh́n Bác, cháu chắc ở tuổi
Bác…chơi không bền ! Bác mua thuốc này dùng thử đi
đălắm! Kết qủa 100% ! Gái bẻ sừng trâucũng
chạy mặt Bác ! Cường dương hết xẩy
! Thuốc xanh cho phụ nữ, thuốc nâu cho đàn ông…Mua
đi Bác ! Cháu bảo đảm thế nào Bác cũng t́m
lại cháu mua nữa…
Cách mời dai như đỉa đói.
Sau cùng ông B. nói :”Tao thiến rồi !”,
ông mới được buông tha !
Và đương nhiên có xây cất
những công trường, nhà cao ốc theo nhu cầu.
Người dân mỉa mai :”có xây, có cất” ! Dĩ nhiên
một số tư nhân cũng lên từng lầu, cái cao cái
thấp lổn nhổn như răng cán bộ.
Có những công tŕnh xây cất lớn
rất qui mô. côngphu, “hoành tráng”, vĩ đại như Trung
Tâm Đại Nam, ngoài B́nh Dương, Trung tâm Bà Nà, gần
Đà Nẵng với cây “cáp treo” dài 5 cây số, kỷ
lục thế giới, Đại tự Bái Đính đang
cất trên đồi rộng thênh thang với cả ngàn
tượng đá bầy la liệt ngoài sân…
Ở những nơi du lịch vĩ
đại bao nhiêu th́ khu vệ sinh bị lơ là, bỏ
thí cho hôi thối hoành hành bấy nhiêu!
Cái lạ lùng, cái mà không thấy tận
mắt không thể nào tin được, là cái nghĩa
địa khổng lồ ở An Bằng, ngoài Huế !
Cả trăm, cả ngh́n cái lăng đủ loại
lớn nhỏ xây lên công phu tốn kém với những cột
rồng cuốn người ôm không xuể, những bia
trạm trổ hay đắp mảnh bát đĩa
đủ mầu, có cả cửa tam quan nghênh ngang,
nghễu nghện với lưỡng long chầu
nguyệt, hay chữ vạn hoặc cây thánh giá. Tuy xây
cất không hànglối trên đất cát, nhưng thật là
rộng lớn ngút tầm mắt ! Trứơc kia gọi
là Làng Ma, sau này đổi lại là Làng Lăng, nay trở
thành một nơi du lịch, tiếng anh gọi là
“DeathValley”,tiếng Pháp là “la cité des morts”.
Cũng do con cháu chạy ra nước
ngoài, kẻ đi chài lưới trúng tôm cá, người làm
móng tay, cắt tóc, làm ăn khá giả, tiền bạc
như nước gửi tiền về xây lăng mộ
cho gia tộc tốn cả mấy chục tới trăm
ngàn đô la…Đôi khi c̣n ganh đua, lăng gia tộc này
nhỏ hơn lăng kế bên bèn đập đi xây
lại, đẹp hơn, lớn hơn…tạo công ăn
việc làm không hết quanh năm cho những người
trong ngành xây cất .
Nơi nghỉa địa mênh mông này, xây
cất lộn xộn, không
khoảng cách, dĩ nhiên không có nhà vệ sinh, nếu
cần th́ chẳng đặng đừng, du khách tự
kiếm một chỗ tương đối kín đáo mà
giải quyết ngoài trời…
Chùa Hương, nơi danh lam thắng
cảnh nổi tiếng từ bao nhiêu đời, một
nơi hẹn ḥ lăng mạn thủa nào của nam thanh
nữ tú, vẫn thu hút đông đảo thập
phương tới cúng
viếng, cầu xin. Vào dịp Tết hay ngày hội,
người đi lễ không
c̣n chỗ để len chân. Cảnh mặt sôngnước
xanh đầy những thuyền nhôm sơn mầu
đất đỏ san sát nhau, với mái chèo đều
tay, nước róc rách, chở khách vào hay ra chùa, vừa
đẹp vừa lạ mắt vô cùng . Lâu lâu văng
vẳng một tiếng ḥ vu vơ…
Vào dịp này, các cuống vé xé rồi
vất la liệt trên mặt đất dầy cả gang
tay. Đường lên chùa đă được khơi
rộng, trải đá cho ba, bốn người đi cùng
lúc, chứ không phải từng người như
trước kia. Lại văn minh có thêm“cáp treo”, mua vé th́
sẵn, mà chờ leo lên được là một chuyện
khác, đôi khi chiếc xe lủng lẳng trên trời v́
điện bị cúp bất thần.
Trên là trời,
dưới người. Trên là chùa hang khói hương nghi
ngút tỏa ra như đám mây ngàn, dưới chân núi
đầy những hàng quán ăn mặn cho thập
phương, thịt cầy, thịt heo, thịt ḅ,
thịt nai.v.v...treo lủng lẳng, nơi nguyên con, chỗ
một phần, ruổi bu đen kín . Khi đầu bếp
cần, cầm con dao ra xua đám ruồi, xẻo một
miếng thịt mang vào xào nướng cho khách hàng ăn
đông như kiến. Dĩ nhiên có ăn, có uống
phải có chỗ sa thải. Một ác mộng chưa
từng có, khai nồng nặc, dơ dáy khủng khiếp
làm một số người phải dội ra ngay,
nhịn thở, bịt miệng, tịt luôn nhu cầu sinh
lư, mặc dù đă phải chi ra mấy ngàn đồng
địa phương. Cũng chẳng khác ǵ những nhà
vệ sinh gần Vạn Lư trường thành bên Tầu
mấy năm về trước. Nên câu « bất đáo
trường thành phi hảo hán » được
diễn đổi ra « bất đái trựng thành phi
hảo hán » tức
nhịn tè ở trường thành mới là hảo hán !
Hoặc phải dư can đảm tháo nước trong
ḿnh ra ở nơi gọi là
vệ sinh đó mới thành người hùng
được, không biết ghê tởm là ǵ ! Cái
khổ, cái sợ hăi, cái kinh hoàng về những nơi du
lịch ở một số lớn các nước Á Đông
là các pḥng vệ sinh công cộng, dù có thu tiền sử
dụng !
Ông bộ trưởng du
lịch của Singapore, sau khi thăm viếng Việt Nam
về tuyên bố nhẹ nhàng câu để đời cho xă
hội chủ nghĩa : « Cầu tiêu công
cộng của một xứ là bề mặt nổi
của xứ đó »
THẾ Ư !
(IV)
Dù trong thời gian
chiến tranh hay sau này ḥa b́nh, ăn, đệ nhất khoái
vẫn được người Việt luôn chiếu
cố kỹ càng. Kinh tế thế giới đang suy thoái
tới đâu cũng mặc, những tiệm ăn
đắt tiền hay rẻ tiền b́nh dân lúc nào cũng
đông nghẹt thực khách. Có nơi khách xếp hàng
để chờ . Có khi chủ nhà hàng coi khách như
ruồi , nhờ thời tới mà vẫn đông.
Hàng phở Bắc ở
cư xá Công Lư cũ không
kịp bán ! Có khách , chắc người Nam, đ̣i giá
sống, ng̣ gai bị người bưng phở ném vào
mặt gọn ghẽ : » Phở Bắc ! Rau
ǵ ! »
Có ăn tất phải
có uống rượu đủ loại, nhất là bia
uống cả két !
Như mọi nơi trên
thế gian này, trên bàn ăn, trong bàn tiệc, ngoài cái thú
nhắm ăn, nhậu nhẹt cơ hưũ, cũng có
khá nhiều gợi ư, mỡ đường, khuyến
dụ, trao đổi, thương lượng, quyết
định, đồng ḷng về những mục làm
ăn, buôn bán, chạy chọt, xin xỏ, cầu ơn, ra
lệnh, thanh toán, càng ngày càng gia tăng các phương
thức thương mại, kèm theo mỹ nhân phục vụ, như điều
không nói ra nhưng thành luật đương nhiên ở
tất cả mọi giới từ bần
cố nông, thợ
thuyền tới các quan cán bộ súng ngắn súng dài,
giới chức thẩm quyền, tiểu, đại
thương gia, các đỉnh cao trí tuệ v.v...
Vấn đề ẩm
thực ở Việt Nam, từ ngày ḥa b́nh, càng ngày càng
được khai thác rộng răi vừa kích thích vừa
thỏa măn nhu cầu của giới ăn nhậu tới
mức lạ lùng, quái đản chưa hoặc vô cùng hiếm trước thời
thống nhất : nuốt sống tim rắn c̣n đang
thoi thóp đập, bọ cạp rang, nướng, nhền
nhện chiên ḍn, hột vịt lộn chiên me, trứng cút
lộn v.v... và đủ loại rượu thuốc ngâm
các loại rắn, hải mă, rồng biển, chim
phượng...
Phải thực tế vô
tư mà nói những cái thanh tao văn hóa thời xưa
đă thay đổi quá nhiều về khuynh hướng xô
bồ, tạp nhạp, b́nh dân trên phương diện
ẩm thực, chắc v́ sau
hơn hai mươi năm kham khổ, cực
nhọc làm lu mờ, quên đi phong cách và đ̣i hỏi cao
lương mỹ vị thủa xưa, phần mà
những người Việt ở hải ngoại khi
về quê t́m kiếm lại, thèm khát hương vị
hồi nào, nhưng nay thất vọng v́ không kiếm
đâu ra, vĩnh viễn...Chẳng trách được ai
v́ những thay đổi ăn uống này, các đầu
bếp, bán hàng cũ đă tản mát khắp bốn
phương trời, mất tích hay đă qua đời
cả ba bốn chục năm rồi...
*Bún chả Hà Nội,
trước năm 1954, đa số bán hàng rong trong vài khu
phố, đặc biệt bún chả Hàng Mành : tất
cả từ rau riếp búp, tía tô, canh giới, tới bún lá
được bầy gọn ghẽ trên một cái mẹt
tre nhỏ có lót một lớp lá chuối xanh, thêm chén
nước mắm có pha nước hàng nâu tươi trong
bỏ chả vừa nướng nóng hổi thơm phức,
nào chả miếng thịt ba rọi có chút cháy cạnh và
một miếng chả băm to bằng hai ngón tay...
Ở Cali và một
số tiểu bang khác bên Mỹ cũng bán bún chả Hà
Nội quảng cáo là chính gốc mà chẳng thấy Hà
Nội tí nào. Rau riếp táp nham mua rẻ, chả miếng
không ướp hành tiêu đường mà chất bố láo
nào không biết. chẳng có vị ǵ ngoài miếng thịt
nâu bằng bàn tay khô queo, cứng ngắc, viện cớ
thiên hạ bây giờ sợ mỡ của thịt ba
rọi ! Bún là một
mớ nắm bún rối. Bún lá h́nh như biến khỏi
thị trường rồi...Hiện nay bún chả Hàng Mành
cũng tương tự như trên, nhưng c̣n thảm
hại hơn, một chén lớn nước mắm
nhạt phèo đầy thịt táp nham gọi là
« một xuất ». Thực khách đổ nháo nhào
bún vào chén thịt nước mắm, chộn thêm với
rau và ăn như ăn phở ! Ôi ! khách ăn trên
dưới năm mươi sơi thùng bất chi
th́nh ! Cũng không thể trách được v́ cái
văn hoá ăn uống thanh tao của thủa nào nay đâu
c̣n nữa !
*Bánh tôm Hồ Tây bây
giờ là một thất vọng thảm hại, tê tái,
đau đớn cho người Việt hải ngoại
hoài cổ : hai con tôm nối đuôi nhau trên miếng
bột tṛn chiên vàng, vô vị.
Đâu là khoai lang thái chỉ hồi nào !
*Đu đủ ḅ khô
ở ngay góc bờ hồ Hoàn Kiếm, xế Trung Tâm Múa rối
nước, tạm ăn được.
Cải tiến vô duyên là
rắc thêm lạc rang giă, tỏi chiên ḍn...chẳng
giống ai !
*Phở ḅ, đa số thịt dai
nhắc phải bầm với sống dao, lại tiệp
thêm dào cháo quẩy của con cháu Bành Tổ, chẳng ra cái
thể thống ǵ ! Điểm này không thể nói
tới « hưũ nghị » được
Thời mới,
người mới, món ăn uống mới... đă xóa
hẳn nét văn hoá thanh tao xưa, phong cách cũ, có ăn
là may rồi, cầu kỳ làm chi mất th́ giờ mà c̣n không
bán kịp nữa là kiểu cách chẳng cần thiết
cho những người chưa từng biết
tới...Nhóm người ở rừng rú về hoặc
nơi đồng chua nước mặn chưa sạch
nước phèn với ư thức hệ cao nghều
nghệu, và đám dân bị hộ khẩu bóp xiết
bụng dạ bao năm trời, ngoài gạo mốc cơm
hẩm ra, bất cứ món ăn nào mà chẳng thấy ngon, có
« chất lượng »...
THẾ Ư !
(V)
Cóc chết ba năm c̣n
quay đầu về núi, huố`ng chi người Việt
hải ngoại bỏ xứ ra đi đă trên ba chục
năm sinh sống trên đất người, nay cũng
vào tuổi gần đất xa trời, nên không ít th́
nhiều đều muốn lo mộ phần được yên ổn cho gia
tộc, tiền nhân, rồi tới bản thân ḿnh, vẫn
muốn được vùi thây nơi đất mẹ,
mặc dù sau bao nhiêu năm vẫn chưa quên
được cảnh thảm khốc khi rời
nước, trong ḷng những nghĩ là sẽ không bao
giờ c̣n dịp hay muốn trở lại nơi chôn nhau
cắt rốn, vốn dĩ người Việt nào
cũng luôn thiết tha với
quê cha đất tổ...
Ở một số
nghĩa địa bên nhà, mồ mả đă
được đào lên để giải tỏa thành
phố lập công viên hay xây công thự khác. Đất trên
toàn lănh thổ thuộc về nhà nước, thuộc
Đảng,mong ǵ có mảnh đất tư hữu cho thân
xác chết xa nhà.
Có một ông chủ nhà
kia bị cắt đất làm đường. Căn
kế bên gần hết đất, không tiền xây
lại, tiền bồi thường qúa tượng
trưng nên để hoang. Người đi đường
hay ghé vào đi tiểu. Ông chủ nhà bên la hoài không xong, khai
nồng cả xóm ; tức qúa ông mua sơn viết lên
tường « chỗ chó đái ». Thấy bớt
hẳn !
THẾ Ư !
(VI)
Thời măn khai, thời
Trung cổ, thời tiền hay hậu chiến, không bao
giờ diệt tan hoàn toàn giây nhợ máu mủ, và ḷng tham
lam nguyên thủy của con người, dù dưới
lưỡi mă tấu hay đầu súng AK, trên khắp
năm châu này, dưới h́nh thức này hay dạng khác,
dựa vào quyền lực hay sức mạnh đồng
tiền mà ẩn lấp hưởng lợi.
Thời cộng hoà th́ có
COCC (con ông cháu cha).
Thời xă hội chủ
nghĩa th́ năm (5) C :
« con cháu các cụ
cả ! »
« các cụ cần châm
chước cho ! »
Ngày 5 tháng 4, năm 2009,
ở cây số CỘN, cách Quảng B́nh khoảng 8 cây
số về phía bắc, trên đường số 9,
Trường Sơn Tây, chuyến
xe buưt du lịch mang số trong Nam bị anh công an giao thông
giơ dùi cui chặn lại. Người tài xế
xuống tŕnh giấy tờ, lát sau lên xe, mặt hầm
hầm, phát ra những lời bất kính với Bác,
mặc dù tuổi trên dưới ba mươi, hoàn toàn do xă
hội chủ nghĩa giáo dục, rồi than :
-
Nó bảo xe ở Thành Phố ra có qùa
không !
Anh là người đă
chọc quê cảnh sát lưu thông ở Hà Nộ khi hỏi:
-Tôi bị
« đậu phọng đường » (lạc
đường), chỉ giùm đường N. ở
đâu !
THẾ Ư !
« Thế ư » có
đổi thay ư nghiă theo đà tiến triển của
thời gian, thời cuộc, không c̣n cái cao siêu thiền phi
phàm, vô tư chấp nhận, tự tại, b́nh tĩnh
mọi vui buồn của thế gian, theo sự xoay vần
thiên nhiên của vũ trụ, nhân quần. »Thế
ư » nay chỉ c̣n là sự chấp nhận bất
đắc dĩ, chẳng đặng đừng, lơ là
cho qua, v́ dù có muốn cũng ngoài sức đổi thay
trước những mưu toan thần sầu của ma
qủy.
Tam Thanh